Follow by Email

Friday, April 8, 2011

An Lộc - CHIẾN TRƯỜNG ĐẪM MÁU

CHIẾN TRƯỜNG ĐẪM MÁU 
 Tác giả: Tổng hợp Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam và An Lộc Anh Dũng

Trình bày: Jennifer Kim Nguyễn




1972 - An Lộc Anh Dũng (1)


Trước khi để lịch sử về cuộc chiến đấu chống CS của quân dân miền Nam có thể trôi vào quên lãng, chúng ta phải ghi lại đầy đủ tội ác của CS, nhất là đối với miền Nam VN. Một trong những tội ác đó là CS Bắc Việt đã dùng ít nhứt 4 sư đoàn (công trường) để cố tàn sát 1 tỉnh lỵ bé nhỏ ở Bình Long miền Nam VN vào năm 1972, nhưng CSBV đã thất bại. Sự thất bại này đã làm giảm uy tín của Võ Nguyên Giáp, "người anh hùng Điện Biên", nổi tiếng trong giới quân sự Tây phương là có tài nướng quân. Hậu quả của trận tấn công An Lộc là CSBV đã để lại cho vùng đất bé nhỏ này 1 cảnh điêu tàn, chết chóc thật là khủng khiếp, không thể nào mô tả nỗi.



North Vietnamese Army's attack on An Loc in 1972


Vào ngày 7/7/72, Tướng lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc, đã viết: "An Lộc đã đứng vững suốt 3 tháng cam go nhờ vào tinh thần chiến đấu kiên cường của toàn thể quân dân anh hùng nơi thị xã nhỏ bé thân yêu của đất nước." An Lộc, tỉnh lỵ của Bình Long, trước đây là 1 thị trấn nhỏ gọi là Hớn Quản thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Từ thời cố TT Ngô Đình Diệm, vì nhu cầu hành chánh, tỉnh Bình Long được thành lập gồm 3 quận Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh. Từ ngày đó, quận Hớn Quản đổi thành quận An Lộc và tỉnh lỵ An Lộc nằm trong quận cùng tên này, trong phạm vi xã Tân Lập Phú.


Vài Nét Về An Lộc:

Tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea với 1 diện tích 2,240 km2, gồm trên 76,000 dân. Riêng quận An Lộc gồm cả thành phố tỉnh lỵ rộng 740 km2 với khoảng 44,000 dân, đa số tập trung vào xã Tân Lập Phú. Toàn tỉnh Bình Long, chung quanh tỉnh ly và quận lỵ là những đồn điền cao su ngút ngàn, vài ngọn đồi thoai thoải. Đồi Gió, Đồi 100, Đồi Đồng Long là những cứ điểm quân sự quan trọng bảo vệ thị trấn An Lộc. Quốc lộ 13 từ Saigon đi ngược lên cắt đôi tỉnh Bình Long và xuyên ngang tỉnh lỵ An Lộc dẫn dài tới biên giới Kampuchea, tới Snoul. Quốc lộ 13 phải vượt qua Lai Khê, Chơn Thành, Tàu Ô, Tân Khai, Xa Cát, Xa Trạch, Xa Cam rồi mới tới thành phố An Lộc. Quãng đường này đã trở thành chông gai trắc trở trong thời gian diễn tiến cuộc chiến An Lộc. Các chiến sĩ VNCH phải khắc phục con đường này từ Nam lên Bắc và những người dân chạy loạn từ Bắc xuống Nam đã mệnh danh hơn 20 km quốc lộ này là "con đường máu".

Điểm thứ nhứt khiến CS Bắc Việt nhắm vào An Lộc là vì tỉnh Bình Long nằm sát biên giới Kampuchea nơi che dấu những căn cứ địa của CS Bắc Việt trên xứ Kampuchea. Thị trấn này về mặt chiến lược còn nắm vai trò chủ yếu phòng thủ cho Bình Dương và sau đó là thủ đô Saigon. Thế nhưng An Lộc chỉ là 1 thành phố nhỏ bé, nơi đặt cơ sở hành chánh điều hành tỉnh Bình Long. Điều quan trọng mà CS Bắc Việt đã gán cho An Lộc là yếu tố tinh thần. Khi chọn làm mục tiêu tấn công CS Bắc Việt hy vọng đạt 1 chiến thắng đồng thời tạo 1 kinh hoàng, đe dọa thủ đô Saigon. Khi họ quyết tâm tấn công An Lộc, CS Bắc Việt cũng không ngờ đến rằng sẽ gặp phải 1 sức chiến đấu kiên trì anh dũng của quân dân tại đâỵ Sức chiến đấu này không phải chỉ 1 người ca tụng, 1 dân tộc ca tụng mà cả thế giới ngưỡng mộ và cảm phục.


General Lê Văn Hưng An Loc at An Loc Battle field



Từ Lộc Ninh Đến An Lộc:

Giữa lúc dân chúng trên khắp lãnh thổ miền Nam tự do chưa hết bàng hoàng bởi cuộn sóng đỏ xâm lăng công khai vượt lằn ranh vĩ tuyến 17 tràn vào vùng cực Bắc của VNCH, trong những ngày đầu thì 1 mũi dùi khác của CSBV bắt đầu thọc mạnh vào tỉnh Bình Long, với quân số 4 sư đoàn, mưu toan "dứt điểm" Bình Long, làm bàn đạp tiến về phía Nam, uy hiếp thủ đô Saigon, chỉ cách nơi đây có hơn 100 km.

Rạng sáng ngày 5/4/1972, vào lúc bình minh, Bộ chỉ huy hành quân của CSBV ban ra 1 mệnh lệnh khô khan :"Phải chiếm An Lộc trước ngày 20/4/72, nghĩa là phải đè nặng áp lực tối đa lên vùng hơn 100 km Bắc Saigon, để cầm chân 1 số lớn lực lượng nòng cốt của địch tại đây". Đoàn quân xâm lăng, được chuẩn bị từ lâu, gồm các sư đoàn Công Trường 5, CT 7, CT 9, CT Bình Long cùng Trung đoàn 203 chiến xa từ vùng Lưỡi Câu của Kampuchea tràn qua, xuyên qua các rừng cao su dày đặc. Quân CSBV được pháo binh nặng loại bắn xa 130 ly và các loại phòng không cực kỳ tối tân yểm trợ. Tính ra, ít lắm cũng đến 40,000 quân CSBV tham dự mặt trận này.

Trong trận đánh đầu tiên, CSBV dồn toàn lực CT 5 gồm 3 Trung đoàn 174, 275 và Trung đoàn Biệt lập, cùng Trung đoàn Pháo E6, quyết nuốt trọn Lộc Ninh, 1 quận nằm về phía Bắc An Lộc. Cộng quân gặp sự kháng cự mãnh liệt của chiến đoàn 9 gồm Trung đoàn 9 BB, 30 chiến xa của thiết đoàn 5. Biệt động quân Biên phòng, Địa phương quân và Nghĩa quân Lộc Ninh cũng phản ứng không kém phần ác liệt. Mặc dù quân số CS đông gấp 3, quân trú phòng vẫn cố chống trả. Nhiều trận đánh xáp lá cà diễn ra ngay bên trong quận lỵ. Trước chiến thuật thí quân của CS, quân trú phòng phải hạ nòng đại bác 105 ly trực xạ vào các đợt xung phong biển người (human wave tactic) của địch.

Đánh vùi nhau suốt ngày không xong, CSBV dội trở ra, để rồi pháo kích liên miên bất tận vào các ổ kháng cự của quân trú phòng.

Giữa lúc chiến trường Lộc Ninh vẫn diễn ra ác liệt, 1 cánh quân khác của CT 9, đơn vị được coi là thiện chiến nhứt trong số 4 sư đoàn CSBV tham chiến tại Bình Long, bất ngờ tấn công vào tỉnh lỵ An Lộc từ 3 giờ chiều ngày 6/4/72, nhằm chặn đường tiếp viện cho Lộc Ninh. Đoạn đường từ An Lộc đi Lộc Ninh bị gián đoạn hoàn toàn, chỉ có thể liên lạc bằng điện thoại. Tình hình hết sức nguy ngập. Trận thế của CSBV đã bắt đầu hình thành. CT 5 quyết lấy Lộc Ninh, rồi chọc thẳng mũi dùi theo quốc lộ 13 tiến xuống phía Nam, công hãm mặt Bắc An Lộc. Cả 2 sư đoàn CT 7 và CT 9 của CSBV cũng xuất phát từ vùng Lưỡi Câu Kampuchea, đánh ép vào mặt Tây An Lộc. Nhưng CT 9 đánh thẳng vào An Lộc, còn CT 7 thì giữ chặt quốc lộ 13 ở về phía Nam An Lộc, con đường bộ duy nhất tiếp tế cho thị trấn này.

Một cánh quân khác do CT Bình Long gồm chừng 2 Trung đoàn địa phương tiến từ mạn Đông Bắc xỉa xuống. Bốn sư đoàn bộ chiến, chưa kể chiến xa, pháo binh, đại bác phòng không, cùng chĩa mũi vào một thị trấn không quá 4 km2. Nếu đem rải đều 40,000 quân Bắc Việt trên diện tích 4 km2 thì lính CS tràn ngập An Lộc, mỗi người cách nhau 10 m, ngang cũng như dọc, với đủ loại vũ khí tối tân. Lực lượng trú phòng chỉ có một sư đoàn 5 BB.

Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu III, tức tốc bốc Liên đoàn 3 Biệt động quân từ Tây Ninh về án ngữ phía Bắc An Lộc. Trong khi đó, tại Lộc Ninh, sau 3 ngày bị pháo, không được tiếp viện, quân trú phòng được lệnh di chuyển dần dần về phía Nam, để lùi về An Lộc. Toàn bộ 30 chiến xa của VNCH, một số bị phá hủy, một số đành bỏ lại.

Trước áp lực mỗi ngày một mạnh từ mặt Bắc xuống, chiến đoàn 52 từ vùng cầu Cần Lê, 15 km Bắc An Lộc, cũng phải lui dần về An Lộc. Quân CSBV giăng sẵn một tuyến phục kích dài trên 3 km toan nuốt trôi Tiểu đoàn 1/48 của Chiến đoàn 52 vào ngày 7/4/72, nhưng Tiểu đoàn này đã chiến đấu kịch liệt, mở đường máu chạy về An Lộc và chỉ thiệt hại nhẹ. Chính Tiểu đoàn này đã gỡ thể diện cho Trung đoàn 52 BB. Chỉ trong vòng 3 ngày giao tranh, tại Lộc Ninh, đã có đến 2,150 lính CSBV bị hạ sát, tương đương với quân số của một Trung đoàn.

Về phía QLVNCH có 600 chiến sĩ hy sinh, cùng với 30 chiến xa và một pháo đội 105 ly, bị mất. Kể từ đây, An Lộc bó mình trong vòng đai phòng thủ, không có lấy một chiến xa để đối đầu với chiến xa địch có đến cả một trung đoàn hàng trăm chiếc.

Tại mặt trận An Lộc, điểm đáng kể thứ hai nữa là quân trú phòng không có đại bác. Nguyên một tiểu đoàn pháo binh mang số 52 với 24 khẩu 105 ly cũng bị phá hủy gần hết chỉ còn một khẩu duy nhất. Trọn một pháo đội 6 khẩu của quân Dù thả xuống Đồi Gió, 4 km Đông An Lộc, mấy ngày sau cũng bị tiêu luôn. Tất cả còn lại chỉ là một ý chí chiến đấu "hoặc sống trong tự do, hay chết đi cũng để cho con cháu được sống tự do". Những kẻ đang sống trong không khí tự do mà chưa hề bị đe dọa, không sợ bị mất đi, sẽ cho đây là một sáo ngữ đầy tính chất tuyên truyền. Nhưng đối với người dân VN, đã từng biết rõ mối đe dọa đó qua 27 năm khói lửa, kể từ năm 1945 đến năm 1972.

Họ cũng đã có nhiều kinh nghiệm xương máu về điều gọi là chiến tranh giải phóng, chiến tranh nhân dân, họ biết thế nào là chủ nghĩa CS, nên họ đã chiến đấu, tận lực chiến đấu, dù trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhứt. Cuộc chiến tại VN hiện nay, năm 1972, đã chứng tỏ điều đó. Lời tuyên bố của Tướng Lê Văn Hưng quyết tử thủ An Lộc đã đưa vị Tướng 1 sao này lên hàng danh tướng và làm nức lòng chiến sĩ Bình Long.


Tăng T-54 bị bắn hạ tại An Lộc


Trận Chiến Khởi Đầu:

Trận chiến khốc liệt tại An Lộc, một tỉnh lỵ rộng không đầy 4 km2, nhưng mức độ tàn khốc của các cuộc giao tranh đã khiến cho nhiều ký giả quốc tế cho là gấp 10 lần Điện Biên Phủ thật sự khởi đầu từ ngày 7/4/72. Tất cả các cánh quân của 2 sư đoàn CSBV đều dồn về An Lộc. Sư đoàn CT 5 từ trên đánh xuống, CT 9 và CT Bình Long ép 2 mặt Tây Đông. Sư đoàn CT 7 vừa chặn mặt Nam, lập chướng ngaị trên quốc lộ 13 vừa tung quân tiến đánh các mục tiêu sát biên giới như Katum, Tống Lê Chân, Thiện Ngôn để cầm chân sư đoàn 25 Bộ binh đang trách nhiệm vòng đai Tây Ninh, chận đường tiến của địch về Saigon theo ngã quốc lộ 1. Quân trú phòng không "tăng" mà cũng không "pháo", phải đối đầu với 1 quân số gấp 3-4 lần, có hàng trăm chiến xa và cả trung đoàn pháo đủ loại. Toàn bộ lữ đoàn 1 Nhảy Dù, gồm 3 tiểu đoàn 5, 6 và 8 được gởi đến tăng viện. Toàn bộ sư đoàn 21 Bộ Binh, cùng trung đoàn 15 của sư đoàn 9 BB từ vùng sình lầy miền Tây cũng được bốc lên Lai Khệ Tuy nhiên, kể từ đây, quãng đường Chơn Thành đi Lộc Ninh đã bị tắc nghẽn.

Các đơn vị tăng viện cố tiến từng bước một để đến gần đơn vị bạn An Lộc, nhưng mỗi bước tiến, không biết bao chiến binh gục ngã, dù là bên này hay bên kiạ Tiến lên không nổi, phải quay trở lại, để rồi tìm cách tiến lên. Gần trọn sư đoàn CT 7 của địch dồn nỗ lực chính vào tuyến phục kích dài 26 km từ Chơn Thành đến An Lộc. Suốt quãng đường này, nơi nào cũng có thể là mục tiêu của pháo binh địch. Chúng rải quân dài dài dọc theo quốc lộ để sẵn sàng chỉ điểm tọa độ cho pháo binh bắn từ xa tới. Phi trường Lai Khê, vắng từ 3 tháng qua, kể từ khi các đơn vị Hoa Kỳ rút đi, bỗng nhiên tấp nập trở lại. Các chuyến bay nối đuôi nhau chuyển quân hoặc tiếp tế cho chiến trường.

Cuộc giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt. Dần dần, lực lượng bên trong An Lộc đã có thể khởi lại thế công, dù phải hết sức chật vật. Mấy hôm trước, vòng bán kính bao vây thị trấn chỉ chừng 500 m. Nhưng đến ngày 11/4/72, vòng đai kiểm soát được nới rộng thêm đến hơn 3 km đường bán kính. Bên ngoài, lữ doàn 1 Dù đã tiến khỏi Chơn Thành được 7 km về hướng Bắc, sau khi giải tỏa áp lực địch từ Lai Khê đến Chơn Thành. Sau một trận đụng độ ác liệt với địch quân tại vùng này, lữ đoàn 1 Dù giao lại trách nhiệm cho các đơn vị của sư đoàn 21 BB giữ an ninh trục lộ, những đoạn đường đã được giải tỏa. Riêng trong ngày 11/4, 27 pháo đài bay B52 trút gần 800 tấn bom xuống các vị trí địch. Có lẽ nhờ thế, buổi chiều hôm đó, mức độ pháo kích đã giảm sút rất nhiều. Sư doàn 21 BB được tăng phái trung đoàn 15/9 và 1 tiểu đoàn Dù, có nhiệm vụ khai thông quốc lộ 13, nhưng đây quả là 1 nhiệm vụ vô cùng khó khăn mà mãi đến 8/6 mới hoàn thành nổi.


Trận Chiến Xa Đầu Tiên:

Ngày 12/4/72, Bộ tư lịnh cao cấp của CSBV lại ra khẩu lịnh cho cán binh của họ:"Cán bộ và binh sĩ phải tấn công trên khắp mặt trận. Chắc chắn quân ta sẽ thắng". Guồng máy tuyên truyền của CSBV được tổ chức ngay tại quận Lộc Ninh, rêu rao là An Lộc đã được giải phóng, nên ngày hôm sau 13/4, chiến xa của chúng mở nắp khơi khơi tiến vào thị xã An Lộc. Khi xe bị bắn cháy, những tên lính CSBV gục chết mà gương mặt vẫn còn hết sức ngỡ ngàng, như còn vương thắc mắc, "Quân ta giải phóng An Lộc rồi kia mà ?".


Sinh Liên Xô tử An Lộc


Mở màn cho trận đánh khốc liệt đầu tiên bằng chiến xa này, hồi rạng sáng, cộng quân từ mạn Bắc thành phố tiến chiếm phi trường L.19 và toàn thể kho nhiên liệu, đạn dược của Bình Long gần sân bay bị phát hỏa bốc cháy dữ dội. Hàng ngàn quả đạn đại bác rơi vào An Lộc dọn đường. Đoàn chiến xa lù lù tiến vào. Nghe tiếng ì ì của chiến xa từ phía Bắc thẳng vào thành phố, lính trung đoàn 8 BB hơi bỡ ngỡ, vì đây là lần đầu tiên họ trực diện với chiến xa T54 và PT76 của CSBV. Đoàn chiến xa tiến theo đường Ngô Quyền, sát cạnh BCH của Đại tá Mạch Văn Trường, Trung đoàn trưởng trung đoàn 8 BB. Mặc dù 1 vài trái pháo của ta làm chậm bước tiến, nhưng đoàn chiến xa địch vẫn bò tới. Chỉ còn cách BCH của Đại tá Trường 20 m, đoàn chiến xa bị khựng lại bởi 1 loạt đạn M72. 3 phát đầu bị hụt. Phát sau trúng đích, chiếc xa dẫn đầu bốc cháy, trườn tới mấy thước rồi ngừng hẳn. Mấy tên lính CS trong xe nhảy ra, cháy nám, lăn lộn trên lề đường. Một loạt đạn M16 giải thoát. Lên tinh thần, lính của Trung đoàn 8 chĩa mũi M72 vào tất cả đoàn xe. Có tới 15 chiến xa địch bị bắn cháy sát cạnh BCH Trung đoàn 8 BB. Đoàn chiến xa địch lùi lại để rồi tìm đường khác tiến vào. Tiếng súng vang rền trong phân nửa phía Bắc thị xã An Lộc.

Trong lúc giao tranh ác liệt tiếp tục, Đại tá Trương Hữu Đức thiết đoàn trưởng thiết đoàn 5 đang ngồi trực thăng quan sát, bị trúng đạn tử thương. Tại Saigòn, khoáng đại Thượng nghị viện của Quốc hội VNCH đã ngưng lại các phiên họp thường lệ để dành hết thời gian ca ngợi và tri ân các chiến sĩ đang chiến đấu trên khắp các mặt trận. Trở lại An Lộc, sau 30 giờ ác chiến đẫm máu bằng đủ mọi hình thức, xáp lá cà, cận chiến bằng lựu đạn, súng dài, súng ngắn thi nhau nổ, trong phân nửa thị xã phía Bắc, cuộc tấn công đợt một có chiến xa pháo binh hỗ trợ của CSBV đã bị đẩy luị 2 bên đều bị thiệt hại nặng, và kiệt lực, cần phải nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại.

Cuộc Tấn Công Bằng Chiến Xa Lần Thứ 2 và Thứ 3 Ngày 14/4/72 đánh dấu một nỗ lực mới của Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu III An Lộc bị xiết chặt trong vòng vâỵ An Lộc bị bó cứng trong mấy cây số vuông. Quân trú phòng không bung ra ngoài được để hoạt động. Cần phải tìm một lối thoát, lập một đầu cầu mở cửa ra vào An Lộc, nới rộng tầm hoạt động của quân trú phòng. Mặt Bắc, mặt Tây, mặt Nam đều bị bít kín. Chỉ còn mặt Đông Nam, với những ngọn đồi thoai thoải. Những ai lãnh nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm này? Lữ đoàn 1 Nhảy Dù dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng được Trung tướng Minh chọn, vì quả thật không có đơn vị nào tại mặt trận này làm hơn được Lữ đoàn 1 Nhảy Dù. Cuộc họp mật tại căn cứ Lai Khê giữa Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lịnh sư đoàn Nhảy Dù, Trung tướng Minh và Đại tá Lưỡng kết thúc mau chóng.


Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng


Sau 5 vòng bay quan sát, Đại tá Lưỡng chọn ấp Srok Ton Cui làm bãi đáp, 4 km Đông An Lộc. Tiểu đoàn 6 Dù xuống trước dọn bãi đáp. Ngaỳ hôm sau, 15/4/72, 2 tiểu đoàn 5, 8 và BCH Lữ đoàn xuống theo. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù ở lại đoạn hậu, trấn giữ Đồi Gió, để 2 tiểu đoàn bạn chia làm 2 cánh song song tiến vào An Lộc. Cũng trong thời gian này, nghĩa là vào sáng 15/4, CSBV lại ồ ạt tấn công đợt 2 vào mạn Bắc thị trấn. Một số chiến xa địch lọt được vào phòng tuyến phía Bắc, xuống đến nửa phía Nam thành phố. Một số lớn chiến xa địch lại bị phá hủy. Rút kinh nghiệm lần trước, quân trú phòng bắt đầu tranh nhau bắn chiến xa, không phải chỉ bằng M72 mà bằng cả súng phóng hỏa tiễn B40 và B41 tịch thu được của đối phương khi chúng xâm nhập thành phố. Chính trong các cuộc giao tranh này, binh sĩ CSBV để lộ rõ một khuyết điểm trầm trọng trong kỹ thuật tác chiến trong thành phố: thiếu phối hợp giữa bộ binh và chiến xa.



Những con cua nước M-113


Quân trú phòng ẩn nấp trên các cao ốc, trong các hầm trú ẩn, tại bất cứ nơi nào kín đáo mà họ thuộc nằm lòng để chĩa tất cả họng súng đủ loại vào một mục tiêu quá lớn, và quá rõ ràng đang di chuyển trên đường phố, trong lúc đôi bên chỉ cách nhau trong vòng 10 m. Quân tấn công, tất nhiên từ xa tới, dường như hoàn toàn lạc lỏng giữa thành phố xa lạ. Dù họ có được học tập kỹ càng đến mức nào di nữa trên mô hình, dù có thực tập đánh trên xa bàn hàng bao nhiêu lần đi nữa, thì họ cũng không thể nào biết rõ địa thế bằng chính người dân, binh sĩ đang sinh sống tại An Lộc. Đó là chưa kể một lỗi lầm trầm trọng trong chính sách tuyên truyền của CSBV là đã khiến cho binh sĩ họ mang một sự tin tưởng quá lạc quan rằng An Lộc đã được giải phóng. Thật là tàn nhẫn quá sức, vì điều này chẳng khác nào họ đã dẫn dụ, lừa bịp binh sĩ của chính họ vào chỗ chết. Hơn thế nữa, nếu lúc ban đầu, đoàn chiến xa hùng hậu của CSBV có tác dụng làm phấn khởi tinh thần binh sĩ của họ, đồng thời làm suy giảm nhuệ khí quân trú phòng, thì trong thời gian sau, ảnh hưởng đó lại trái ngược.

Trong cuộc tấn công bằng xe tăng đầu tiên vào An Lộc, vài đoàn viên xe tăng CSBV được cấp chỉ huy của chúng cho biết trước là An Lộc đã được giải phóng. Cho nên lính CSBV lừ lừ cho "tăng" tiến vào thành phố, mở rộng cả nắp pháo tháp ngắm cảnh "thị trấn giải phóng" và chờ đợi những tiếng hoan hô của "dân được giải phóng". Trong các đợt tấn công sau đó, các chiến sĩ VNCH sau khi hạ được "tăng" địch đều khám phá rằng có nhiều đoàn viên tăng CSBV bị cấp chỉ huy của chúng xích chặt vào "tăng" luôn. Lúc đầu, chiến sĩ ta cứ tưởng là binh sĩ CSBV can đảm cố thủ trong xe tăng chăng? Ngày 9/4/72 tại Quảng Trị, tiểu đoàn 6 Thủy quân Lục chiến chỉ dùng vũ khí cá nhân M72 hạ một loạt hàng chục chiến xa địch chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ.

Chiến thắng đầu tay này được loan truyền mạnh mẽ trên hệ thống truyền thanh quốc gia. Cũng trên làn sóng này, kỹ thuật bắn chiến xa cũng được chính các Tướng lãnh giải thích tường tận. Binh sĩ VNCH, hầu như mỗi người đều có một máy thu thanh bỏ túi dể nghe âm nhạc, và dường như tất cả đều chú ý nghe ngóng tin tức chiến sự tại các mặt trận khác. Họ biết được hiệu quả của vũ khí chống chiến xa, và các cấp chỉ huy mặt trận cũng không bỏ lỡ cơ hội huấn luyện thêm ngay tại chỗ, như trường hợp của Tướng Hưng, ngay sau trận tấn công bằng chiến xa đầu tiên của CSBV vào An Lộc. Kể từ khi hạ được chiến xa đầu tiên tại An Lộc, binh sĩ trú phòng lên tinh thần và vững chãi chiến đấu với địch. Cùng lúc đó, tinh thần của cán binh CSBV phần lớn dựa vào chiến xa. Chiến xa bị cháy, bị bắn nằm ngổn ngang trên đường phố, họ không còn tinh thần chiến đấu nữa. Bộ binh "tùng thiết" (đi theo thiết giáp) thấy chiến xa bị bắn cháy là mất tinh thần. Đây là một trong những yếu tố khiến cho An Lộc khỏi mất ! Sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất của quân VNCH bên trong An Lộc, có thể nói mà không sợ sai lầm, đến 90% do CSBV pháo kích.



Đại bác trên trực thăng

Cũng trong ngày 15/4/72, Tướng Nguyễn Văn Minh dời Bộ tư lịnh Quân đoàn III lên Lai Khê để trực tiếp chỉ huy mặt trận Bình Long. Một lực lượng đặc nhiệm gồm 20,000 binh sĩ với Nhảy Dù, Bộ Binh, Thiết Kỵ được thành lập để giải tỏa quốc lộ 13. Cuộc đổ quân của lữ đoàn 1 Nhảy Dù gây thiệt hại cho cả 1 tiểu đoàn trấn giữ Đồi Gió. Tiểu đoàn 6 Dù và 1 pháo đội 6 khẩu đại bác 105 ly bị thiệt hại nặng (sau 18 năm thành lập, tiểu đoàn 6 Dù bị tan nát vào lúc 17 giờ ngày 21/4/1972). Tuy nhiên, sau này chính tiểu đoàn này, được bổ sung ngay tại chỗ, đã trả được mối hận đó, bằng cách đánh cú chót tuyệt kỹ, bắt tay với lực lượng bên trong An Lộc vào ngày 8/6/72, kết thúc giai đoạn 2 tháng vây hãm của chiếc rọ tử thần "An Lộc". Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, đang hoạt động bên trong phòng tuyến địch, cũng được bốc hết về An Lộc ngày 16/4/72, để tiêu diệt các tổ đặc công của địch lọt được vào thành phố sau 2 cuộc tấn công vào thị xã. Lính Biệt Cách Dù được huấn luyện để đơn độc chiến đấu trong lòng địch, thuộc nằm lòng cách tác chiến, thói quen và vũ khí của CSBV để có thể giả dạng quân "giải phóng", nên kỹ thuật tác chiến cá nhân rất cao. Chính Biệt Cách Dù đã tỉa các đặc công CSBV cố bám vào dân, và nhờ đó, tránh một số thiệt hại cho số dân còn kẹt lại bên trong thành phố. Sau khi quân Dù bắt tay được với quân trấn thủ, liền nới rộng vòng đai về pía Nam. Không quân VNCH và Hoa Kỳ hoạt động dữ dội. Pháo đài B52 dội bom chỉ cách An Lộc 1 km về phía Bắc, tiêu diệt trọn một trung đoàn CSBV. Áp lực địch đã giảm bớt trong ngày 17/4/72, phần bị đánh bật ra ngoài. Quân trú phòng cố nới rộng vòng đai phòng thủ, đồng thời di chuyển được chừng 2,000 dân chúng ra khỏi An Lộc để chạy về Chơn Thành. Mặc dù kho đạn dã chiến tại Lai Khê bị pháo kích nổ dữ dội gây bối rối cho sư đoàn 5, và "hành lang máu" trên quốc lộ 13 vẫn còn bế tắc, nhưng đến đây, Tướng Nguyễn Văn Minh nhìn thấy được một tia hy vọng "Có thể giữ vững được An Lộc".

Trong cuộc họp báo tại Lai Khê sáng 17/4/72, Tướng Minh tuyên bố :"Giai đoạn khó khăn nhứt đã quạ Chúng tôi hết sức thận trọng vì sợ kẹt dân. Chúng tôi không lạc quan qua trớn, và đang ghìm súng chờ đợi những đợt tấn công mới của đối phương". Tướng Minh khỏi phải chờ đợi lâụ Ngay ngày hôm sau, 18/4/72, đợt tấn công chiến xa thứ ba đã đổ ập vào An Lộc, một chiến trường nặng ký gấp nhiều lần Điện Biên Phủ 18 năm trước đó, nhưng theo một nhà báo ngoại quốc là, "Gió đã đổi chiều cho Giáp". Mà quả thật, gió đã đổi chiều tại đâỵ Quân trú phòng không vương một mặc cảm chủ bại. Họ cùng một lòng chiến đấu, hy sinh cuộc sống của họ cho lẽ sống của hơn 17 triệu dân Miền Nam, đang phập phòng hướng về họ. Tướng Lê Văn Hưng, Tư lịnh sư đoàn 5 BB, chỉ huy toàn bộ lực lượng trú phòng, cam kết: "Ngày nào tôi còn, An Lộc còn".

Vị tướng này, tay thì cầm M16, mặc áo thun, quần đùi, lựu đạn quanh mình, hoạt động 24/24. Hai tai của ông liên tục nghe báo cáo và điều động các binh sĩ của ông khắp nơị Thật vậy, An Lộc rất may mắn có vị tướng này và chính ông là một trong những yếu tố quan trọng giữ vững An Lộc. Thêm nhiều chiến xa CSBV bị hạ gần Bộ chỉ huy của Tướng Hưng. B52 tiếp tục dội bom chung quanh. Không quân VNCH dồn dập yểm trợ và tiếp tế. Nhưng trước một hàng rào phòng không dầy đặc đủ loại, từ đại bác 37 ly, B40, B41, hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA7 lố nhố trong rừng cao su bao vây An Lộc, dù anh em phi công có cố gắng đến mức tối đa, chịu nhiều tổn thất, cũng chỉ tiếp tế "nhỏ giọt" cho chiến trường. Phần lớn kiện hàng thả xuống bay tạt ra ngoài hàng rào phòng thủ. Nguồn tiếp tế bị cản trở, quốc lộ 13 vẫn tắc nghẽn. Quân trú phòng bị bao vây trong hơn 2 tháng rưỡi trường như thế. Không khí ngột ngạt và căng thẳng đến độ một vị Trung tá Trưởng phòng 2 của sư đoàn 5 BB phải thốt lên :"Đây là chiến trường cô đơn, và mãi đến ngày thứ 60 của cuộc chiến, các cánh quân tiếp viện cũng chỉ le lói ở cuối đường số 13". Nếu đây là một đoàn quân không chiến đấu cho một chính nghĩa, không có một niềm tin vững chãi và hình như, nếu không có một sự nhiệm màu nào đó hỗ trợ, chắc chắn họ đã thảm bại từ lâu rồi.


Đợt Tấn Công Thứ 4

Hạn định lúc ban đầu của Bộ chỉ huy cao cấp CSBV ban ra là ngày 20/4/72 phải dứt cho được An Lộc. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững. Tin tình báo cho hay, đúng ngày này, toàn bộ BCH của CT 5 CSBV bị thay thế, để chuẩn bị đợt tấn công mới. Nửa đêm về sáng ngày 21/4/72, Cộng quân pháo kích trên 2000 trái đạn đủ loại vào những địa điểm trú phòng của quân VNCH, rồi tấn công 4 mặt vào thị xã. 4 mũi dùi chĩa vào 4 vùng cùng ở mặt Đông :
- 2 km Đông Nam An Lộc
- 3 Km Đông Nam
- 1 km Đông Nam
- 5 km Đông Nam là những nơi có quân đội VNCH trấn đóng. Tại mỗi nơi, Cộng quân có 5 hoặc 6 chiến xa, với một tiểu đoàn BB tùng thiết (đi theo thiết giáp). Đặc công CS hoạt động mạnh trở lại, ăn nhịp với các hoạt động bên ngoài. Tuy nhiên, không hiểu vì do xếp đặt trước, hay thiếu sự phối hợp, các mũi dùi này không khai diễn đồng loạt, mà lại cách quãng nhau. Mũi thứ nhứt khởi diễn hồi 4 giờ sáng, và nỗ lực sau cùng khởi diễn hồi 13 giờ chiều. Nhờ thế, quân trú phòng có thể yểm trợ cho nhau một phần hỏa lực súng cối còn lại, và nhất là hỏa lực của không quân.



Có đến 17 phi vụ B52 để yểm trợ cho An Lộc trong ngày hôm ấy. Trong số đó có 3 "pass" yểm trợ cho Tiểu đoàn 6 Dù rút khỏi Đồi Gió, 4 km Đông An Lộc. Nhưng rủi thay, Tiểu đoàn này gặp phải hỏa lực quá hùng hậu của địch gờm sẵn để tấn công mặt Đông Nam An Lộc đúng vào ngày này. Tiểu đoàn 6 Dù đã "tan hàng" -- nói theo kiểu nhà binh. Những đơn vị còn lại đều đẩy lui được các đợt tấn công của đối phương. Bắn hạ thêm nhiều chiến xạ Trong lòng nửa phía Bắc thành phố An Lộc, cuộc giao tranh giữa Biệt Cách Dù và đặc công CS tiếp tục với mức độ ác liệt, tạo thành những mảng da beo trên phần đất này.

Hàng ngàn xác chết của cả 2 bên, của thường dân, của người lớn, của trẻ em la liệt trong thành phố. Đêm 22 rạng 23/4/72, CSBV tung thêm 2 cánh quân, một đánh vào vùng trách nhiệm của Tiểu đoàn 8 Dù ở cửa Nam An Lộc, và một chặn đánh Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 BB trên quốc lộ 13. Cánh quân đánh Tiểu đoàn 8 Dù có 2 chiến xa T54 và 2 chiếc BTR yểm trợ. Lúc này, quân trú phòng đã có loại súng bắn chiến xa mới mang tên XM202 từ M72 biến cải, có thể bắn liên tiếp 4 phát, với sức nóng 3600 độ Fahrenheit mỗi trái. Cả 4 chiếc đều bị cháy rụi, quân tùng thiết CSBV mất tinh thần và bị đánh bật trở rạ Không những thế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Dù còn gọi phi cơ C130 có gắn đại bác 105 ly bắn theo sự hướng dẫn của ra đa hạ luôn 1 đoàn xe 5 chiếc khác đang hướng về Trung đoàn 15 BB. Sau đợt tấn công thứ tư bị thất bại, Cộng quân chỉ còn nước pháo kích vào thành phố để trả hận. Tình hình An Lộc có phần dễ thở hơn, mặc dù vẫn dưới điệu nhạc ì ầm của pháo binh CS, hàng ngàn trái mỗi ngày. Trong khi đó, đoạn đường quốc lộ 13 Chơn Thành - An Lộc vẫn tiếp tục nhuộm thêm máu.

Bên VNCH cố tiến lên. Quân CSBV cố sức giữ lại. Các cấp chỉ huy CS đã không ngần ngại xiềng chân nhiều binh sĩ của họ trong các hố chiến đấu cá nhân nằm rải rác dọc quốc lộ 13 để làm những con chốt cản đường, và chỉ điểm cho pháo binh của chúng từ xa bắn tới. Ngày nào cũng có một số trực thăng bị rớt nhưng không có chiếc nào hạ cánh nổi xuống An Lộc. Các cuộc chuyển quân cấp đại đội của Nhảy Dù đều bị đánh bật. Về sau, phải di chuyển ở cấp tiểu đoàn. Mãi đến ngày 8/5/72, lực lượng giải tỏa quốc lộ 13 mới tiến thêm được 6 km nữa để chiếm làng Tàu Ô, nằm giữa Chơn Thành và An Lộc, sau 3 ngày giao tranh đẫm máu, gây thiệt hại nặng cho cả đôi bên. Quân CSBV đã xây những hầm chiến đấu sâu đến 6 m dưới lòng đất khiến phi cơ không thể nào phá nổi. Quân giải tỏa phải đánh cận chiến, đánh bằng lựu đạn, và chiếm cứ từng hầm hố, từng địa đạo, từng căn nhà, từng thước đất một. Hai trung đoàn của sư đoàn 21 BB được thả ở vùng Bắc Tàu Ô đánh thốc xuống, trong lúc một cánh quân khác đánh thốc từ phía Nam đánh lên. Trước khi chiếm làng này, lực lượng giải tỏa đã phải đối đầu với 4 tiểu đoàn CSBV, 2 tiểu đoàn pháo và đặc công tăng cường, nằm đầy mạn Bắc làng Tàu Ô.




Quân giải tỏa cố lập một phòng tuyến tại đây, tạo một đầu cầu trên đường tiến vào An Lộc. Pháo tập dọn đường cho trận đánh quyết liệt. Đến giờ phút này, ngày 10/5/72, cả 3 mặt trận An Lộc, Kontum và Trị Thiên đều đang ở trong tình thế gây cấn. Bên kia Thái Bình Dương, TT Richard Nixon công bố những biện pháp mạnh đối với CSBV. Tại Saigon, TT Thiệu tuyên bố "Tổ quốc lâm nguy". Lịnh Thiết Quân Luật được ban hành trên toàn quốc từ 0 giờ ngày 11/5/72. Chính vào giờ này, BCH cao cấp của CSBV tại mặt trận Bình Long muốn "dứt điểm" An Lộc, bắt sống Tướng Lê Văn Hưng. Kể từ trưa hôm trước, tất cả các khẩu pháo của CSBV đã bắn trái khói lai rai cầm chừng để điều chỉnh tọa độ những địa điểm mà chúng định sẵn sẽ tấn công. Đúng 12 giờ đêm, giờ khởi đầu của tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ VNCH, Cộng quân bắt đầu cuộc "pháo tập" khốc liệt và tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương vào An Lộc. Đến 4 giờ sáng, CSBV bắt đầu "chuyển pháo". Kinh nghiệm và khả năng tác chiến cao đã giúp cho binh sĩ trú phòng biết ngay địch muốn làm gì khi chuyển pháo đi nơi khác. Sau khi chịu đợt "tiền pháo", tất cả đều vọt ra khỏi hầm ghìm súng chờ đợi "hậu xung". Quả nhiên, ngay sau đó, chiến xa ì ì kéo tới. Từ 4 giờ sáng, Cộng quân xỉa 3 mũi dùi từ hướng chính Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc với quân số mỗi cánh cấp trung đoàn có chiến xa dẫn đầu đánh ập xuống nửa thị xã phía trên. Ở ngã Đông Bắc, Cộng quân đột nhập vào khu Chợ Mới, sát phòng tuyến VNCH. Trận giao tranh tại đây càng lúc càng đẫm máu, kéo dài mãi đến 8 giờ 30 sáng. Mặt Bắc thành phố là mặt bị uy hiếp nặng nhất ngay từ đầu cuộc chiến. Các cánh quân CSBV ẩn phục trong đồn điền cao su Quản Lợi và từ quốc lộ 13 kéo xuống như vũ bão. Mặt chính Bắc và Tây Bắc, Cộng quân huy động một lực lượng hùng hậu có chiến xa dẫn đầu để tiến công. Chiến xa CS dẫn đầu đã chọc thủng phòng tuyến Tây Bắc của lực lượng trú phòng. Theo sau là 2 trung đoàn bộ chiến CSBV. Vì sợ hỏa tiễn chống chiến xa, nên đoàn xe tăng của CS phóng quá nhanh, quân bộ chiến theo không kịp. Chiến xa tách rời bộ binh, liền lập tức bị quân trú phòng dùng hỏa tiễn M72, XM202 và cả B40 (tịch thu của CS) hạ luôn 1 hơi 8 chiếc. Những chiếc còn lại hoảng sợ bỏ chạy. Tuy nhiên, quân bộ chiến của chúng tràn đến kịp dùng chiến thuật biển người (human wave tactic) áp đảo quân trú phòng.
Dường như tiên đoán được cuộc tấn công qui mô quyết định này, Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lịnh Quân khu 3 đã xin từ trước hỏa lực yểm trợ của B52 dội vào khu vực phía Bắc. Mãi đến 10 tiếng đồng hồ sau, nghĩa là đúng lúc 2 trung doàn CSBV từ mạn Tây Bắc tràn vào thành phố, liền bị hàng loạt bom B52 thả trúng, cách bìa thành phố chỉ 1 km. Riêng trong ngày này, Bộ tư lịnh Hoa Kỳ tại VN đã dành cho chiến trường An Lộc 20 phi vụ B52 với 2000 tấn bom đủ loại. Theo sự ước tính tại chỗ, có ít nhất 1 trung đoàn địch bị tiêu diệt. Cuộc tấn công lập tức bị chặn lại. Cánh quân thứ tư ước độ 1 trung đoàn CSBV, có 10 chiến xa dẫn đầu đánh thốc từ dưới lên trên, theo ngã Tây Nam vào lúc 6 giờ 30 sáng. Lực lượng trú phòng giữ mặt này chống trả mãnh liệt nên mũi dùi chính không thể tiến thêm được. Tuy nhiên, ở cả 2 mặt Bắc lẫn Nam, một số đơn vị CSBV đã xâm nhập được vào thành phố và chia thành nhiều tổ chiến đấu nhỏ, gây hỗn loạn trong thành phố.



Suốt ngày 12/5/72, quân trú phòng cố sức đánh cận chiến để trục các toán CSBV ra ngoài. Mãi cho đến tối, chiến trường mới tạm lắng dịu tiếng súng giao tranh, nhưng pháo binh CS lại nã liên hồi bất tận vào bên trong An Lộc. Sau 4 giờ để pháo binh tác xạ, đồng thời xếp đặt lại đội ngũ, CSBV lại lợi dụng thời tiết xấu với những cơn mưa như trút tấn công vào, từ 3 mặt Đông Bắc, Tây và Nam. Như vậy, Cộng quân đã liên tục tấn công vào 6 mặt chung quanh An Lộc trong 3 ngày liên tiếp. Mặc dù phải liên tiếp chiến đấu trong 3 ngày ròng rã, trong sự thiếu thốn cả lương thực lẫn đạn dược, nhưng với sự yểm trợ của Không quân VNCH lẫn Hoa Kỳ với B52 lẫn các phi cơ khu trục, trực thăng võ trang, phản lực...quân trú phòng vẫn cầm cự được, và lần hồi bẻ gãy các mũi dùi tấn công, đánh bật quân CSBV ra ngoài rìa thành phố.

Trong 3 ngày giao tranh, có đến 600 binh sĩ của đôi bên chết ngổn ngang trên đường phố, chưa kể số tổn thất của CSBV vì B52. Mùi tử khí bắt đầu xông lên nồng nặc vì không ai có thời giơ kịp chôn cất. Có chăng là các binh sĩ đồn trú để dành thì giờ nghỉ ngơi chôn cất các bạn đồng đội, đánh dấu để sau này thân nhân có thể tìm ra. Đáng kể nhất là các chiến sĩ Biệt Cách Dù. Họ đã quen sống trong lòng địch, đơn độc nhiều ngày, nên An Lộc đối với họ cũng khá dễ chịu. Bởi thế, họ vẫn bình thản tạo dựng được một nghĩa địa khá tươm tất để chôn cất các bạn đồng đội không may ngả gục trên chiến trường. Nghĩa địa Biệt Cách Dù nằm sát ngôi chợ Bình Long và được ghi dấu 2 câu thơ mộc mạc trên một tấm bia mộ chung sau đây:" An Lộc địa sử ghi chiến tích, Biệt Cách Dù vị quốc vong thân".

Quân trú phòng tuy phải bị một phen xấc bấc xang bang, nhưng sau trận này, sau khi chịu đựng nổi cuộc tấn công quyết định mà CSBV dồn toàn lực vào quyết dứt điểm An Lộc, họ đã thoát được những giờ phút nguy hiểm nhất. Tuy nhiên, mối đe dọa vẫn còn, vẫn thường trực chờ ở bên mình. Bên nào cũng ngất ngư. Gần 40 ngày đã trôi qua. Lực lượng tấn công dù có chuẩn bị kỹ càng đến đâu, cũng khó lòng tích trữ một số lương thực và đạn dược cho một trận chiến quá lâu dài với một cường độ khốc liệt như vậy. Bom đạn hàng ngày tàn phá các vị trí tiếp liệu, đánh phá các đường tiếp tế. Vũ khí, đạn dược mỗi ngày một hao mòn. Trên 50 chiến xa bị bắn cháy. Binh sĩ lớp chết, lớp bị thương phải lo di tản... Bao nhiêu sự khó khăn dồn dập trong lúc hậu phương lại quá xa. Mỗi ngày qua đi là gánh nặng càng thêm chồng chất. Hàng này, quân CSBV phải chia nhau đi lượm Dù tiếp tế do phi cơ thả lạc ra ngoài. Quân trú phòng VNCH cũng chẳng hơn gì. Hàng trăm thương binh không được di tản từ 40 ngày qua. Họ nằm dài chung quanh các phi trường để mỏi mòn chờ đợi trực thăng. Nhưng sân bay nào cũng là mục tiêu chọn sẵn của pháo binh địch. Vừa thấy bóng trực thăng thấp thoáng ở đâu là pháo binh CS câu ngay đến đó. Tuy vậy, thỉnh thoảng một vài phi công trẻ tuổi gan lỳ cũng đáp xuống được, di chuyển được một số binh sĩ.

Biết bao thảm cảnh xảy ra bên này cũng như bên kia, ai còn tinh thần chiến đấu, bên đó sẽ thắng. Bao nhiêu ngày không được tắm rửa ? Nước không có đủ để uống lấy gì mà tắm giặt ? Lò mò ra suối tìm nước là một việc mạo hiểm vì không biết "nó" pháo lúc nào. Cơm sấy chỉ đủ ăn cầm hơi. Dù tiếp tế 10 cái, rơi ra ngoài hết 8. Suốt mấy tháng trời ăn ngủ dưới hầm, giấc ngủ chập chờn, ám ảnh. Xác chết ngổn ngang, thương binh nằm oằn oại trước mắt. Nếu không phải là sống trong 1 tập thể chặt chẽ, nếu không tin vào một cái gì đó tốt đẹp hơn, chắc chắn khó có ai chịu đựng nổi mấy tháng trời liên tục như thế.


ARVN Attack at An Loc
QLVNCH đang tấn công tại An Lộc 1972


Càng nóng lòng tiến đến An Lộc, đoàn quân giải tỏa càng bị thiệt hại nặng. Tướng Tư lịnh mặt trận Nguyễn Văn Minh đành thay đổi chiến thuật : Đặt trọng tâm vào việc càn quét những đơn vị chung quanh An Lộc và dọc theo quốc lộ 13 trước đã, để dọn đường cho Bộ Binh tiến vào An Lộc. Toàn bộ sư đoàn 21 BB và các lực lượng tăng phái gồm trung đoàn 9, Biệt Đông Quân biên phòng, Thiết Giáp, Nhảy Dù quyết thu ngắn khoảng cách. Pháo đài bay B52, phản lực cơ, khu trục oanh tạc cơ dữ dội dọn đường. Quân giải tỏa ào ạt tiến lên, vượt suối Tàu Ô, qua Tân Khai, Xa Cát, Xa Trạch. Đến trưa 16/5/72, đoàn quân này chỉ còn cách An Lộc có 3 km thì bị khựng lại. Các đơn vị của VNCH thi đua nhau tiến vào An Lộc. Tuy nhiên, CSBV ẩn nấp trong đồn điền cao su Xa Cam, cửa ngỏ tử thần đi vào An Lộc, với một địa thế vô cùng hiểm trở, sẵn sàng chặn đứng mọi cuộc tiến quân xuyên qua yết hầu này.

Ngày 19/5/72 là ngày mà CSBV thường năm vẫn gây đỗ máu khắp nơi tại miền Nam để mừng sinh nhật HCM. Theo tin tức của một tù binh cao cấp CSBV bị bắt tại An Lộc thì Bộ Tham mưu Cao cấp CSBV sẽ cử hành lễ này trước đó 3 ngày, để rồi cố gắng đánh một trận nữa vào An Lộc, may ra có thể khích động tinh thần cán binh lần chót quyết chiếm thị trấn này vào ngày 19/5/72, gọi là để mừng sinh nhật "Bác Hồ" dù ông ta đã chết. Nhưng kế hoạch này đã bị bại lộ. Một toán Biệt Kích được tung vào vùng tình nghi, 16 km Tây Nam Bình Long. Nhận đúng tọa độ, toán Biệt Kích gọi về BCH hành quân. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, 6 phi vụ B52 liên tiếp dội bom xuống vùng này. Nguồn tin này cho hay, 80% nhân mạng chung quanh Bộ Tham mưu này của CSBV đã bị chôn vùi trong hố bom. Nhờ cuộc không tập này, quân CSBV đã không thể mở nổi trận đánh vào ngày 19/5/72 như chúng đã dự định.

Tuy nhiên, đến ngày 23/5/72, từ rạng sớm cho đến xé chiều, Cộng quân lại mở liên tiếp 4 đợt tấn công bằng chiến xa vào các đơn vị VNCH tại khu vực Nam và Tây Nam An Lộc, cách thị trấn này từ 1-5 km, nhưng đều bị đẩy lui. Kết thúc trận đánh này, có thêm 13 chiến xa CSBV bị hạ gồm 5 chiếc T54 và 8 PT76. Lực lượng giải tỏa vẫn chập chờn tại đồn điền Xa Cam. Quốc lộ 13 vẫn bị quấy rối bằng pháo, và các ổ phục kích. 2 trung đoàn BB VNCH vẫn tiếp tục lục soát, tảo thanh chung quanh vòng đai phía Nam An Lộc. Qua máy truyền tin, các lực lượng tử thủ An Lộc biết được quân tiếp viện còn cách họ không xa. Cũng qua máy điện thoại siêu tầng số, Tướng Lê Văn Hưng cho các phóng viên biết rằng, tinh thần binh sĩ của ông vẫn cao, vẫn sẵn sàng đánh nữa, và đã có thể ra khỏi hầm để tắm suối, sau 50 ngày "tắm khô" vì mức độ pháo kích của CSBV đã giảm. Họ cũng đã quá quen với nhịp độ 1,000 trái pháo mỗi ngày. Không quân chiến thuật yểm trợ quân VNCH tại vùng Nam An Lộc, trong lúc không quân chiến lược (B52) liên tiếp không tập vùng Bắc thị trấn, phá vỡ các kho vũ khí, đạn dược vừa được CSBV chuyển tới.

Một tài liệu tối mật bắt được ngoài mặt trận cho thấy, Trung ương cục R (Trung ương cục Miền Nam) của CS khẩn báo về Trung ương Đảng bộ CS ngoài Bắc về sự thiệt hại nặng nề của các đơn vị CS tham chiến tại An Lộc. Bản báo cáo này nêu rõ trường hợp điển hình là Trung đoàn 209, sau một thời gian trấn giữ Bàu Bàng và Tàu Ô đã tan nát. Mỗi đại đội còn không đầy 30 lính, mỗi tiểu đoàn chỉ còn độ 90 so với quân số lúc đầu là 350 người. Cục R cũng than phiền khả năng chiến đấu của sư đoàn Bình Long quá yếu kém, vì phân nửa sư đoàn này là lính Khmer Đỏ, tỏ ra hoảng hốt mỗi khi nghe tiếng phi cơ dội bom. Theo sự tiết lộ của các giới chức quân sự Quân khu 3 của VNCH, Trung ương Đảng CSBV đã chỉ thị các đơn vị CS tham chiến tại Bình Long phải cố gắng kéo dài trận chiến thêm 3 tháng nữa để phù hợp với tình hình và đem lại lợi thế cho họ trong một giải pháp chính trị trong tương lai.


ARVN attack on An Loc
South Vietnamese Army's attack at An Loc in 1972

Trong tình thế này, quân lực VNCH tại mặt trận An Lộc dần dần chuyển thủ ra công, chuyển từ thế hạ phong sang thượng phong, để rồi giải tỏa được vòng vây lửa của 4 sư đoàn CSBV. Tướng Nguyễn Văn Minh, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31/5/72 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông thừa nhận, CSBV đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp 4 lần, và quân VNCH đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy nhiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30,000 quân trong tổng số 4 sư đoàn của chúng. Mưu đồ của CSBV mong tiến đánh thủ đô Saigon đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc. Điều ước muốn nhất của ông là sớm thoát cảnh tù túng, không khác một địa ngục trần gian.

Cũng vào ngày cuối tháng 5/72, TT Nguyễn Văn Thiệu đã bay thị sát 2 mặt trận Kontum và Thừa Thiên -- 2 mặt trận đều đang đắm chìm trong lửa đạn, đồng thời phát động chiến dịch 18 ngày thi đua giết giặc mừng ngày quân lực 19/6. Chiến dịch đã thu đạt được kết quả mỹ mãn : giải tỏa Kontum, khắc phục quốc lộ 13, mở đường tiếp viện cho An Lộc, một tuần sau đó. Khắc Phục Quốc Lộ 13 và Bắt Tay với An Lộc Trong những ngày đầu tháng 6/72, đoàn quân có nhiệm vụ giải tỏa quốc lộ 13 tích cực hoạt động. Hai trung đoàn 33/21 và 15/9 cùng tiểu đoàn Dù cùng song song tiến lên, khởi từ Xa Trạch. Tiểu đoàn 6 Dù bị tan nát từ ngày 21/4/72 tại vùng Đồi Gió, đã được tái bổ sung. Chỉ trong vòng 1 tháng trời, với nỗ lực huấn luyện ngay tại chỗ của các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn, đơn vị này đã trở lại chiến trường quyết trả mối hận Đồi Gió. Với sự hỗ trợ của 2 trung đoàn bạn, tiểu doàn 6 Dù lướt đi như gió, càn quét các đơn vị CSBV cản đường như một con hổ dữ, không hổ danh là những thiên thần mũ đỏ. Chiều tối ngày 8/6/72, đại dội 62 của tiểu đoàn 6 Dù bắt tay được với một đại đội của tiểu đoàn 8 Dù trấn giữ vùng Nam An Lộc từ ngày 17/4/72. Hai tiểu đoàn này cùng được đổ xuống ấp Srok Ton Cui ngày 15/4, nhưng lạc nhau kể từ đó. Đến nay lại gặp nhau trên cửa ngõ An Lộc. Làm sao kể xiết nỗi vui mừng của cả 2 bên. hai đoàn quân đến ôm chầm lấy nhau, siết chặt tay nhau, mừng mừng, tủi tủi.

Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu, Tư lịnh sư đoàn 21 BB, chỉ huy lực lượng giải tỏa quốc lộ 13, thở phào nhẹ nhõm. Nhiệm vụ của ông vừa được hoàn tất. Tướng Hồ Trung Hậu cho hay, tiểu đoàn 6 Dù đã làm ngạc nhiên tất cả các đơn vị bạn trong những trận đánh cuối cùng trước khi bắt tay quân phòng thủ An Lộc. Trung đoàn 15/9 và 33/21, những đơn vị kềm chặt Cộng quân để tiểu đoàn Dù tiến lên, cũng cử những đơn vị đại diện đến bắt tay với lực lượng bên trong. Sở dĩ cuộc bắt tay này được coi là những diễn biến quan trọng, bởi nếu thực hiện được, vòng đai bảo vệ thị trấn An Lộc mới được mở rộng, trực thăng mới có thể đáp an toàn để tải thương, đồng thời tiếp viện và tiếp tế cho chiến trường. Hàng chục ngàn binh sĩ được đổ vào An Lộc với đầy đủ lương thực, để thay thế bớt cho những binh sĩ đã kiệt sức, hoặc quá mệt mỏi. Tuy nhiên, phần lớn lực lượng của sư đoàn 21 BB vẫn ở ngoài thị trấn, vì Tướng Hậu không muốn quân của ông biến thành mục tiêu bất động cho pháo binh địch. Vấn đề được đặt ra sau cuộc giao tiếp đối với cánh quân giải tỏa quốc lộ 13 là dồn mọi nỗ lực để tiêu diệt địch chung quanh An Lộc, nhất là những ổ phòng không và đại pháo của CSBV.

Ngày 9/6/72, lần đầu tiên kể từ 2 tháng qua, một đoàn trực thăng 23 chiếc hạ cánh an toàn xuống An Lộc, vừa tiếp tế, vừa đổ quân, để rồi bốc thương binh ra. Quân trú phòng phấn khởi, tiến lên chiếm lại những vị trí của Cộng quân cố thủ tại phía Bắc An Lộc. Những tổ kháng cự bên trong thị trấn cũng lần lượt bị tiêu diệt. Cuộc di tản thương binh và thường dân vẫn được tiếp diễn đều đặn. Ngày Chủ nhật 11/6/72, TT Thiệu đã gởi cho Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân lực VNCH, yêu cầu chuyển lời khen ngợi nồng nhiệt của ông đến Trung tướng Tư lịnh Quân khu III, Chuẩn tướng Tư lịnh sư đoàn 5 BB, Chuẩn tướng Tư lịnh sư đoàn 21 BB, tất cả các đơn vị trưởng cùng toàn thể các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng đã anh dũng chiến đấu bảo vệ thị xã An Lộc và khai thông quốc lộ 13.

Trong lúc đó thì liên đoàn Biệt Cách Dù và liên đoàn 3 Biệt Động Quân cùng song song tiến lên mặt Bắc An Lộc. Tiểu đoàn 36 Biệt Động Quân đã cắm ngọn cờ vàng 3 sọc đỏ đầu tiên tại trại gia binh pháo binh ngày 12/6/72. Kế đó, tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân đánh lên mặt Tây Bắc, sát sân bay và cạnh đồi Đồng Long. Tiểu đoàn này đã chế ngự một cao điểm sát đồi Đồng Long để yểm trợ cho Biệt Cách Dù tấn công lấy luôn đồi Đồng Long, cắm cờ trên ngọn đồi này. Ngọn đồi này cao 128 m, và là nơi CSBV đặt pháo binh bắn vào An Lộc từ mấy tháng qua. Sau cái bắt tay giữa 2 tiểu đoàn Dù ngày 8/6 lực lượng trú phòng được tiếp tế thật đầy đủ dò dẫm tiến lên mạn Bắc quốc lộ 13 và nới rộng thêm vòng đai phòng thủ.

Ngày 12/6/72 khi cờ VN phất phới bay trên đỉnh đồi Đồng Long, Tướng Lê Văn Hưng tuyên bố với phái viên VTVN: "Thành phố An Lộc được hoàn toàn giải toả"


Bên Lề Cuộc Chiến Mưa Pháo


Để duy trì áp lực trên thành phố An Lộc, hoặc ngay cả trước khi mở cuộc "hậu xung", CSBV đã dành cho thành phố bé nhỏ này những trận pháo kinh thiên động địa mà các giới quan sát chiến trường lúc bấy giờ nhận xét là họ chưa từng thấy cuộc pháo kích nào như thế cả trong lịch sử chiến cuộc thế giới. Nghĩa là không còn danh từ nào tượng hình hơn danh từ "Mưa Pháo" mà người dân tại An Lộc cũng như chiến sĩ ở đây đã gọi như thế. Một sĩ quan cao cấp, Đại tá Mạch Văn Trường, đã ví những trận pháo kích của CSBV như chiêu thức võ hiệp "Mãn thiên hoa vũ" (mưa hoa bay đầy trời). Diện tích thị trấn An Lộc chỉ chừng vài km2, thế mà trong 2 tháng trời đã lãnh đủ mọi thứ đạn của CSBV, có lúc đến gần 8,000 đủ mọi thứ đạn trong một ngày, như ngày 11/5/72. Tính chung, hơn 2 tháng trời bị pháo liên tục thì trung bình thành phố An Lộc đã chịu đựng hơn 200,000 quả đạn đủ loại. Ít người được dịp chứng kiến tận mắt thành phố An Lộc hoang tàn sau những cơn mưa pháo bất tận, nhưng ai ai cũng có thể hình dung những đổ nát của thị trấn nhỏ bé này với một chút tưởng tượng rằng cứ chừng 20 m2 thì bị tàn phá bởi 1 quả đạn pháo kích của CSBV. Với "mật độ" này, không có một vật gì ở thị trấn An Lộc không ghi nhận dấu vết tàn phá của đạn pháo kích. Từ cột điện, cây cối cho đến chiếc lon sữa bò vứt ngoài đường phố cũng ít nhất bị trúng miểng pháo, đừng nói gì đến nhà cửa...

An Lộc còn có những chuyện bi thảm mà thế giới văn minh không ai có thể tin là sự thật. Dưới trận mưa pháo kinh hoàng của đoàn quân xâm lược, thật ít người được chết chỉ một lần. Vắng tiếng pháo, người sống vội vã lo cho người chết, đào tạm cái hố, gom vội thi hài để người chết được một nơi yên giấc và cũng để tránh cảnh xác người sình thối trước mắt người sống. Thế nhưng giấc ngủ của kẻ chết cũng không yên dưới tay giặc Cộng. Mộ mới "đắp" được vài phút, đạn pháo kích của Cộng quân lại rơi vào. Xác người chết vốn không còn nguyên vẹn lại bị giết một lần nữa bởi sự vô lý của mộng xâm lăng hầu chụp lên đầu dân miền Nam chủ thuyết CS. Người dân còn kẹt lại An Lộc, người lính quyết tâm tử thủ bảo vệ thành phố này, đã cố gắng chịu đựng đến tột cùng của sự cố gắng trước cái kinh hoàng của "mưa pháo" để thành phố không thất thủ. Những tiếng nổ khủng khiếp liên hồi hàng chục ngày rồi cũng trở thành những âm thanh dịu vợi vì quá quen thuộc. Cái kinh hoàng bây giờ không còn phải ở 2 tai mà ở đôi mắt khi nhìn thấy những người đi thu lượm chấp nối đầu, rồi tay, rồi chân hay thân mình của thân nhân hay bạn hữu cho đầy đủ trước khi vùi sâu dưới lòng đất lạnh.




Ngày 15/4/72, hơn 10,000 dân An Lộc chạy vô khu nhà thờ và nhà thương An Lộc. hy vọng Cộng quân không tấn công 2 địa điểm này, bởi nếu còn một chút lòng người không một cấp chỉ huy quân sự nào có thể ra lịnh bắn vào nhà thương và nhà thờ. Chính vì 2 chữ "thương" và "thờ" với sự tượng hình đặc thù của nó, tự đã nói lên tất cả ý nghĩa của sự việc dân chúng tìm 2 nơi này lánh nạn. Tuy nhiên, CSBV vẫn tập trung hỏa lực để pháo kích vào 2 nơi này. Gần 2 tháng sau, khi kể lại vụ nhà thờ ngày 15/4/72 cho chúng tôi, một người lính tử thủ tại An Lộc vẫn còn kinh hoàng và lòng kinh tởm cho dã tâm của CSBV. Anh nói: "Cả chục ngàn người đang ở khu vực nhà thờ, họ cùng các vị lãnh đạo tinh thần chỉ còn biết cầu xin đấng duy linh tối thượng, thương xót cho một đám dân lạc loài qua khỏi cảnh đao binh. Không ai có thể hình dung được cảnh hỗn loạn, thảm khốc khi hơn 10,000 người đạp lên nhau chạy thoát khỏi khu nhà thờ. Số thương vong không biết sao kể siết." Một thành phố nhỏ như An Lộc dễ dàng trở thành mục tiêu tốt cho bất cứ pháo thủ nào chỉnh súng để pháo vào đó, bởi vậy An Lộc đã chẳng còn gì sau hơn 60 ngày bị pháo kích. Điều may mắn còn lại cho những người tử thủ là đạn rơi trúng hầm thì mới chết chứ cách hầm vài thước thì ăn thua gì. Loại đầu đạn phá hầm ghê sợ nhất là loại nổ chậm "Delay"; đầu đạn này không phát nổ khi chạm đất mà còn xuyên thủng khoảng 10 m rồi mới nổ. Với loại đạn này sự tàn phá vô cùng khủng khiếp. Rất may là CSBV không có nhiều loại đạn này. Kể cả căn hầm của Tướng Hưng, ở An Lộc hầu như không có một công sự nào chịu nổi một phát 103 ly hay hỏa tiển 122, có điều Thượng đế "còn ngó lại" nên phần trên căn nhà của Tướng Hưng chỉ bị mấy trái cối 82. Đạn cối 82 không xuyên phá, khi nổ văng nhiều mảnh nhưng chỉ có thể làm sập mái nhà mà thôi. Một vài trái hỏa tiển 122, 107 và cả đạn "Delay" đã rơi chung quanh Bộ chỉ huy của Tướng Hưng, rất may mắnkho^ng có trái nào trúng hầm và chỉ làm hư hại phần ngoài của khu vực mà thôi. Đã nói tới pháo kích tức nhiên phải nghĩ tới những tàn phá và thảm cảnh, những điều này mới chính là biểu trưng vĩ đại nhất cho sự chịu đựng và tinh thần kiên quyết của đoàn người tử thủ cho dù đó là quân nhân hay những thường dân hoàn toàn không có vũ trang. Với khoảng 200,000 trái đạn trong hơn 2 tháng, Cộng quân đã làm cho An Lộc sụp đổ toàn diện. 4,000 binh sĩ và thường dân tử thương bên trong thị trấn. Nhưng tại sao thành phố nhỏ xíu này vẫn đứng vững và trở thành biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của người dân miền Nam không thích chế độ CS ? Đó không phải là một biểu tượng cho một dân tộc không muốn sống dưới chế độ CS hay sao ? Một sĩ quan tử thủ Bình Long đã ghi lại trong nhật ký: "Sự sụp đổ của một thành phố không có nghĩa là mang theo sự sụp đổ tinh thần chiến đấu c?a những người đang còn muốn tiếp tục bảo vệ nó và bảo vệ chính bản thân mình."

Thư Cho Người Tình Hư Vô "Anh Hựu thương, "Thế nào, 2 chủ nhật trôi qua có nhơ lắm không ? Có thể nói từ khi anh và em cùng nhau bắt tay xây dựng vợ chồng thì 2 chủ nhật này là 2 chủ nhật khó khăn và nặng nề vượt qua lắm anh hè. Em biết lắm rồi, trong những giờ phút đó anh muốn thét lên lên thật to để làm sao em nghe những lời nói của anh, rồi cùng anh nói chuyện, rồi em cũng biết lắm những bước chân đi trong những giờ phút đó, nó như một con người không tri giác mà những bước đi đó không hề biết đến, không hề nhớ đến, đầu óc sẽ triền miên suy nghĩ, những cái gì gọi là kỷ niệm ở đời sẽ hiện ra và bắt đầu như diễn kịch trước mắt. Thật đúng tâm trạng của anh lúc đó em sẽ đoán được, vì sao em lại biết tài như thế ? Vì em đã nằm giữa trái tim anh, dòng máu của anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù sao, dù ở phương trời nào em đều đoán được.

"Thế nào rồi đó, chân sưng to không, bằng cái "cột đình" chưa ? Vai đã lột những lớp da bên ngoài gọi là "không đáng kể" để đổi lấy lớp thịt "hồng hà" chưa ? Có đau lắm không anh ? Có hỏi họ để tìm lám, dầu ngoại khoa mà bóp chưn, nhức lắm anh hè. Anh Hựu ơi, em biết đi đường vất vả lắm rồi đó, ăn uống khô khan như vậy có mua gì cải thiện đến không ? Trên đường đi có xảy ra đau ốm gì không ? Nghĩ đến đó em tê buốt cả người càng thêm nhớ nhung suy nghĩ, có sinh ra cái mụt nào để làm thêm đau đớn bản thân không. Vì mùa này là mùa mụt của "đồng chí" đấy phải không Thủ trưởng. Hai chữ Thủ trưởng nói cho vui vậy thôi, chứ không phải em mơ ước như vậy đâu nhé.

Thật ra tâm trạng của em chỉ mơ ước rằng sao cho 3 năm nghĩa vụ xong anh được an toàn cùng về với em, em muốn nhắm măt làm sao thời gian sẽ trôi nhanh đi và nhanh đi nữa để anh và em được về sống trong một ngôi nhà nhỏ hẹp để cùng nhau vượt qua khó khăn, cùng nhau hưởng những hạnh phúc đẹp đẽ. Những hạnh phúc đẹp đẽ, những cái đó em nuôi một mơ ước, một mộng đẹp, chứa đựng nó trong một khối óc, trái tim đầy tình chung thủy của tình nghĩa vợ chồng đã nhen nhúm từ lúc đầu. Anh ơi, xa anh đi, em nhớ lắm, em thương anh lắm, anh nói, anh cười, anh trìu mến thương, anh em làm sao quên được. Có ai hiểu thấu tâm trạng của em trong những lúc nhìn vật của anh, từ nét chữ của anh viết cho em, rồi đến cái nhìn nữa... Chao ơi, em muốn bấu lấy mà nhìn, nhìn mãi, nhìn vui nào cho chán được. Anh Hựu ạ, nói mãi, cũng không hết nhớ nhung của em lúc này đối với anh, thôi em nói chuyện khác anh nhé..."


Biệt Kích Dù tiến vào An Lộc

Trên đây là 2 trang đầu tiên của chị Nguyễn Thị Hàng, giáo viên ở Nghệ An viết gửi anh Lê Văn Hựu địa chỉ là 27100 3TB04 Trung đoàn 203 Thiết giáp, không biết rõ anh ở đơn vị nào. Thư viết 4 trang được ghi lại 2 trang đầu không sửa một nét, không thêm một dấu. Lê Văn Hựu đã chết ngay trận đầu tiên sau 6 tháng vượt Trường Sơn vào Nam. Cái chết của Hựu không phải lỗi của chúng tôi vì chúng tôi phải tự vệ để sống còn, cũng không phải của anh Hưụ;Hựu cũng muốn ở lại bên chị Hàng để "cười rúc rích với nhau", để được ăn ngô, "vườn ngô trước nhà đã được mùa"..

Tội ác này là của chúng nó, lũ đồ tể tay không dính máu, tâm hồn chúng cứng ngắt bởi tin vào chủ thuyết thật tàn độc. Đó là lỗi của lũ ngọa quỷ trầm luân mang danh người và chiêu bài cách mạng giải phóng. Chính chúng nó, thứ thiên tài chết ngập đầy oan khiên, đem chết chóc cho thế nhân...


Tiểu Đoàn 6 Dù Đồi Gió Đổi Tên

2100g của ngày 19 được đánh dấu bởi quyết định của "Lê Lợi" : Tiểu đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ pháo nữa, chỉ còn nhiệm vụ giữ cao địa. Tiểu đoàn trưởng toàn quyền quyết định. Pháo còn nữa đâu để giữ, chưa đầy 48 giờ đã mất 6 khẩu pháp với ngàn quả đạn, bây giờ ở đây làm gì ? Dọt, Đỉnh dẫn 62 xuống đôi hướng về phía ấp Srok, nơi đang có 61 lập vị trí, để lại đồi 2 đại đội 63 và 64 cho Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng trấn giữ.
Vinh còn ào xuống như núi lở, Cộng quân bung ra khép lại. Vinh tiếp tục lấn...chân đồi Gió và ấp Srok lại kẹt thêm cái suối Rộ Vinh cựa quậy khó khăn dưới đám lau -- sậy ruộng sũng nước. - Nó bâu tôi như đỉa, dứt không nổi anh Năm. Vinh hét với Đỉnh trong máy... Tối quá chỉ có sờ ngực áo mà đánh lưỡi lê thôị..quên sờ nón sắt mà nhận bạn.

Nhưng dù Cộng quân cố chận bằng mấy lớp hàng rào người, 11 giờ đêm Vinh cũng rờ được cái ấp...nơi đại đội 61 đang trông chờ từ lúc trời chập tối. 400 m từ chân đồi đến người lính gác của đại đội 61, thành phần của tiểu đoàn 6 đi mất 3 giờ, 3 giờ thêm một số thương binh vì lưỡi lê và mảnh lựu đạn của 400 m cận chiến!

Bây giờ là 0 giờ của ngày 19 bước qua 20, Cộng quân không phải chỉ một thành phần, một cánh quân, nhưng là một lũ người, một lớp sóng người chen vai thích cánh, lố nhố đầy chân Đồi Gió, chân đồi phía Tây lẫn chân đồi phía Đông... Cộng quân tràn ngập đường 245 như trẩy hội, Cộng quân bao quanh ấp Srok Ton Cui như đám người đói vây quanh vị trí phát chẩn. Không phải là một cuộc điều quân để chuẩn bị tác chiến, nhưng là một chợ người, lộn xộn ồn ào, la hét tìm đơn vị, chuyển lệnh.

- Ngày hôm nay máy bay "ngụy" nhiều quá ! - Sao mày không bắn ! - Tao chỉ có AK. - AK thì AK bắn cho "ngụy" sợ. Ở trong này, Đỉnh thì thầm liên lạc với các đại đội trưởng 61, 62 và 60: các toa dặn lính đừng bắn, tụi nó đi đâu cho tụi nó đi, chỉ bắn khi nào nó tấn công mình thôị ".
- Chúng tôi nhận hiểu." Cả 3 đại đội trưởng đều thở dài, lấy gì bắn nữa !! Nhưng dù vô trật tự tới đâu, Cộng quân cũng tập họp lại được hàng ngũ. 3 giờ sáng tiếng kèn thúc quân vang lên lồng lộng... Xong rồi tụi nó dứt mình.

Tiếng kèn thúc quân xoáy trong dêm, vang dọc theo đường 245. Bỏ mẹ, nó bố quân cả 3 km đường dài. Đỉnh run tay khi nghe hiệu lịnh từ đầu đến cuối hàng quân, đồng thời từ phía Bắc đầu đường 245 có tiếng động cơ máy nổ, ánh sáng đèn pha quét ngang dọc bóng đêm, tăng T54. Cộng quân "dứt điểm" Tiểu đoàn 6 Dù không nương taỵ..


3 giờ đúng, Đồi Gió bị tấn công trước, Tiểu đoàn phó Phạm Kim Bằng, mặt sắt đen sì, con người quá thổ, chậm rãi điềm tĩnh và hùng tráng như một hiệp sĩ thời cổ đứng ra khỏi hầm điều khiển 2 đại đội 63, 64 phản công. 63 của Hoàng và 64 của Tuấn, 2 đại đội đã thử lửa với CSBV từ ngày 17, 2 đại đội trưởng "tới" quá mức, dũng cảm như những thiên thần tung hoành trên đầu lũ quỷ say máu. Tất cả đều ở tuyến chiến đấu, không còn khinh binh Tổ trưởng, Trung đội trưởng, Tiểu đoàn phó... Chỉ còn một hàng ngang theo giao thông hào, điểm phân biệt người chỉ huy là tay nói máy chuyển lệnh, tay ném lựu đạn. 2 đại đội chỉ trừ những người chết hoặc bị thương mê man, thương binh chỉ tạm băng sơ qua vết hương, đứng hoặc dựa lưng vào thành giao thông hào để chiến đấu.


Những trận đánh của TĐ 6 Dù tại An Lộc

4 giờ trong bóng tối ngã màu tím của ngày sắp đến. 4 chiếc T54 chia từ 2 hướng Đông và Đông Bắc bắt đầu lên đồi, lính tùng thiết CSBV chạy lố nhố theo sau để tính bề diệt gọn. Trăng thượng tuần gần sáng dọi ánh sáng trắng lạnh xuống sường đồi vằng vặc, khối sắt đen lóng lánh tiến dần vào cùng động cơ vang ầm ỉ, ngọn đèn vẫn giữ nguyên độ sáng ở vị thế "pha", luồng sáng dọi thẳng lên đồi hỗn xược thách thức...
Hai chiếc T54 đầu tiên bò lần lần từng thước đồi dựng đứng.

"- Để tao thanh toán nó." Tuấn đứng thẳng khỏi giao thông hào, kéo chiếc ống M72 cơ hữu (trên nguyên tắc chỉ khinh binh mới có M72). Rút hết các chốt an toàn... Tách ! Sợi giây an toàn cũng đã bị đứt, Tuấn đưa chiếc hỏa tiển lên vai nheo mắt...100 thước, còn xa, 80 thước, hơi xa, 50 thước, đủ! Tuấn bị lóa bởi 2 ngọn đèn dọi thẳng mặt... Ầm ! Quả hỏa tiển đập thẳng vaò giữa 2 điểm sáng, hơi chếch cao một chút, trúng ngay pháo tháp... Chiếc thứ hai tăng tốc độ hú tiếng lớn nhấc một cái lên tuyến phòng thủ, hạ sĩ Nhu, tiểu đội trưởng can trường không kém đại dội trưởng, nhảy vội lên pháo tháp, quả lựu đạn phát nổ sau khi Nhu vừa kịp nhảy xuống.
Hai chiếc T54 của phía Đông thì do chính Hoàng và một binh sĩ khác hạ... Cộng quân dạt lui xuống chân đồi để đại pháo rưới thêm một lớp, lớp thứ 6 kể từ lúc khởi đầu trận đánh. Ngày tới với ánh sáng cùng cơn mưa pháo thứ 7, đỉnh đồi bây giờ tan hoang, điêu tàn và bốc khói, khói của đạn địch và khói của đạn ta cháy dở..."Hột lạc" dài 300 m ngang 70 m, hứng khoảng 2000 quả đạn trong một đêm với vị trí dã chiến, ngày chiếu ánh nắng rọi rõ cảnh vật tan nát...





Tiểu đoàn phó Bằng bị "tung" một mắt. Tuấn hứng một quả 75 ly, quả đạn nổ ngay trên thân thể người sĩ quan trẻ mới 23 tuổi -- số tuổi quá nhỏ đem so với chiến trường nặng độ. Đồi Gió kể từ đó mang tên mới: Đồi "Quốc Tuấn," danh hiệu truyền tin của Tuấn, Cao Quốc Tuấn.

Với một con mắt đẫm máu, Bằng nghiến răng, nhướng mắt còn lại giữ vững đồi cho đến lượt tấn công thứ 16. 12 giờ trưa ngày 20, Bằng kiệt lực xuôi tay bỏ rơi chiếc combine', gọi Hoàng đến: "Thay moa đem 2 dại đội về 169 (Tây Nam Đồi Quốc Tuấn với một cái "yên ngựa" chập chùng trên 2 km đường rừng rậm). Nhớ đem hết thương binh, kẻ chết phải chôn lại...



An Lộc - chiến trường thách đố của phóng viên

Sau đây, dưới hình thức ký sự của 1 phái viên VTVN đã đặt chân hơn 1 lần vào An Lộc trong những ngày còn lửa đạn, người đọc sẽ được dẫn dắt vào thành phố đổ nát An Lộc, sống vài giây phút với những người dân, người lính đã cố thủ An Lộc. Công việc của một phóng viên là trung thực ghi nhận mọi sự kiện xảy ra trong đời sống thời sự. Trên một khía cạnh nào đó người phóng viên như một chứng nhân dự phần vào những diễn biến luôn luôn làm cho thế giới biến đổi không ngừng. Với tư cách của một phái viên Vô Tuyến Việt Nam, tôi tới An Lộc ngày 13/6/72 khi thị trấn này bước vào ngay tử thủ thứ 68. Nhiệm vụ của tôi, tương tự như các phái viên VTVN ở các mặt trận khác, là tường trình qua hệ thống liên lạc siêu tần số, những sự thật đã và đang diễn ra tại các địa điểm mà chúng tôi có mặt. Tôi đặc trách mặt trận Bình Long và chiến trường An Lộc, thực sự như một thách đố đối với cá nhân tôi cũng như nhiều người khác đã từng tìm cách vào An Lộc. Chuyến đi của tôi khởi sự vào trung tuần tháng 4/72 và tôi đã chỉ có thể hoàn tất 2 tháng sau đó, tức vào ngày 13/6/72. Trong 2 tháng trời ròng rã này, mỗi lần khởi hành đều kéo theo một thất bại cho riêng tôi và cả các anh em khác đi cùng. Có những người bị thương, có những kỷ niệm chua sót nhưng đau đơn hơn là cả cái chết của cố phóng viên điện ảnh, thiếu úy Nguyễn Ngọc Bình.

Một tuần lễ chờ đợi, lên trực thăng rồi lại xuống trực thăng, ăn chực nằm chờ dưới những cơn lốc cát nóng bỏng ở phi trường Lai Khê, Bình Dương, ngày 29/4/72, chúng tôi khởi sự cuộc hành trình phiêu lưu vào An Lộc, thời gian này An Lộc bước vào ngày tử thủ thứ 22, áp lực địch đang lúc mạnh và quân CSBV tạo được một lưới lửa phòng không suốt dọc phi trình vào thành phố anh hùng này. Trong ngày này chúng tôi không tới được mục tiêu, trực thăng chở chúng tôi bị bắn như mưa cho khi tới đồn điền Xa Cam. Tại đây địch quân pháo kích hàng loạt vào bãi đáp, các phi công quyết định bay trở về. Trên cao độ hơn ngọn cây ở Xa Cam, chúng tôi nhìn thấy hàng trăm thương bình đang chờ đợi được di tản về Lai Khê, có những người nằm trên băng ca, có những người chạy tán loạn dưới những tiếng nổ chát chúa cát bụi mịt mờ của đạn pháo kích. Họ chạy theo hướng trực thăng đến như muốn bấu víu vào những hy vọng cuối cùng của sự sống. Chúng tôi cảm thông tình cảnh này vì chính mắt tôi trông thấy những thương binh ở Lai Khê, những người còn đi lại được; những vết thương đã có dòi và những ký sinh trùng ghê tởm này đã rớt vương vãi khi anh em từ trên trực thăng tản thương bước xuống. Đợt trực thăng hôm đó, không có một thương binh nào về tới Lai Khê vì các phi công không thể hạ tàu giữa cơn mưa pháo kích của địch quân. Trên đường về, địch cũng bắn rát như khi chúng tôi tới, một trong các loạt đạn của địch đã khiến chiếc trực thăng chở chúng tôi không còn điều khiển được và phi công đã hạ khẩn cấp xuống một bãi trống chính giữa một khu rừng rậm ở phía Nam đồn điền Xa Cam. Trong những khoảnh khắc kinh hoàng, một trực thăng Gunship yểm trợ đã đáp xuống khu đất này để cứu sống tất cả chúng tôi gồm 4 nhân viên phì hành và 4 phóng viên chiến trường.

Ngày 1/5/72, trong một chuyến đi tương tự, điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình đã giã từ ống kính khi trực thăng chở anh nổ tung vì đạn B40 của Cộng quân. Vào khoảng thời gian này, dày đặc trong các khu rừng cao su, Cộng quân trí các ổ đại bác phòng không bắn bằng radar, các hỏa tiển địa không phóng tay cũng như các ổ đại liên khạc đạn không ngừng. Bởi vậy, các phi công ta đã phải liều lĩnh bay sát trên đầu ngọn cây để vô hiệu hóa khả năng phòng không địch điều khiển bằng "mắt thần", tuy nhiên khi bay thấp, phi cơ ta phải chấp nhận đạn súng nhỏ và ngay cả đạn chống chiến xa B40 của địch, bắn từ những tên Cộng quân bị cột người trên các ngọn cây.

Sau đây là lời tường thuật của một người đã có mặt tại vùng này: "Theo tôi biết thì Phòng 3 và Phòng 5/Bộ Tư Lệnh QK3 trước 75 có những tấm hình này vì anh em trong Phòng 5/SĐ5/BB có chụp. Chẳng những lính xe tăng bị xiềng chân mà cả những tên đặc công bắn sẻ cũng bị xiềng chân trên các nhánh cây cao su vì, theo lời khai các tên đặc công -- đa số là người miền Nam -- đã bị QLVNCH bắt thì, nếu không bị xiềng chân, chẳng có bao nhiêu tên đặc công VC dám ăn dầm nằm dề trên những nhánh cây cao su để theo dõi và bắn sẻ theo lệnh của bọn cán bộ BV. Lính của Tiểu đoàn 33 thuộc Liên đoàn Dù của tôi đã bắn chết một tên đặc công VC trên cây cao su. Hắn chết treo tòn teng, phải bắt thang lên hạ xác hắn xuống. Tui được gọi ra Tiểu đoàn Dù 33 trên Đồi Gió chụp hình. Hồi đó, chụp xong rửa hình là giao cho Trưởn Phòng 5 (Chiến tranh Chánh trị) hết. Đâu có dè có ngày mình cần nó mà giữ lại vì... nhiều tấm hình mà tôi đã chụp được tại An Lộc nhìn qua rợn người".



Sau chuyến đi thất bại ngày 29/4/72, chúng tôi vẫn trong tình trạng chờ đợi và tiếp tục một vài lần "phiêu lưu" nữa không phải bằng trực thăng nhưng bằng con đường máu mệnh danh bằng con dường xui xẻo 13 (quốc lộ 13). Ngày lại ngày, đoạn đường Lai Châu - Chơn Thành trở nên quen thuộc với chúng tôi, nhưng hết tuần lễ này đến tuần lễ khác chúng tôi không có cơ hội để vào An Lộc bằng đường bộ. Địa điểm xa nhất mà chúng tôi đạt tới chỉ là suối Tàu Ô, con suối tử thần đã cầm chân đoàn quân khai thông quốc lộ hơn 2 tháng trời và vẫn còn tiếp tục cho tới sau ngày tôi vào được An Lộc và trở rạ Trên đọan đường ngắn ngủi này, chúng tôi lại gánh chịu những kỷ niệm đau thương mới, khi theo chân đoàn chiến xa của chi đoàn 1/20 đi khai thông quốc lộ. Đức Tài, biệt danh của ông Đại úy chi đoàn trưởng 1/20, không phải là xa lạ gì với các phóng viên chiến trường. Đức tài từng là anh hùng thiết giáp trên chiến trường Kampuchia. Ngày 24 xuất trận tại Lai Khê, Đức Tài đã ôn lại kỷ niệm cũ với nhóm phóng viên chiến trường và chính anh đã đãi chúng tôi bữa hủ tiếu sau cùng ở câu lạc bộ sư đoàn 5. Sáng 24, Đức Tài dẫn mấy chục con "cua sắt" đến Chơn Thành để từ đây anh tham gia măt trận Bình Long. Gặp nhau tại Bộ chỉ huy tiền phương trung đoàn 32 ở phía Bắc Chơn Thành, Đức Tài còn đưa 2 gnón tay thành hình chữ V làm dấu hiệu chiến thắng khi leo lên chiếc M113 để dắt đoàn cua sắt M41 tiến và tử địa. Hai người trong nhóm chúng tôi là Lê Thiệp và Dương Phục định leo lên xe Đức Tài để đi cùng, không hiểu sao lúc đó tôi lại cản và nói: "Đi theo sau tiện hơn."

Đức Tài dẫn đoàn xe đi, chúng tôi dồn cục lên một chiếc xe Jeep theo sát chiếc M41 sau cùng. Đoàn xe mới chạy chừng 5 phút, chúng tôi nghe những tiếng đạn pháo kích và tiếng súng liên thanh nổ rền. Mỹ voi, điện ảnh viên quân đội, lao vội chiếc xe xuống lề đường, la lớn: "Xuống hết đi tụi bay, đụng rồi." Hai phút sau, khi chúng tôi chạy lên chỗ một chiếc xe M41 đang nhả đạn 76 ly vào bìa rừng thì người trưởng xa leo lên pháo tháp la thất thanh: "Đức Tài bị rồi, hỏa tiển 122 ly pháo trúng xe".




Xe tăng M41 của Thiết Giáp QLVNCH


Đoàn chiến xa bị chặn lại tại đây và một phi tuần A1 tới thả bom 2 bên bờ rừng. Chúng tôi trở về trung đoàn 32 để nhìn mặt Đức Tài lần cuối. Hai người lính khác cũng hy sinh với Đức Tài. Cái chết ở mặt trận này đến thật mau lẹ, chỉ mấy phút sau khi làm dấu hiệu chiến thắng hình chữ V, Đức Tài đã vĩnh viễn ra đi trong sự ngơ ngác bi thảm của cả đoàn quân vừa khởi sự tham gia mặt trận Bình Long không đầy nửa tiếng đồng hồ.


An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích.

Sau bao nhiêu lần đi, bao nhiêu trắc trở, tôi vẫn định bụng là sẽ phải vào An Lộc để nhìn thấy tận mắt thị trấn anh hùng này, nhìn thấy tận mắt sự tàn phá khủng khiếp vô lý của chiến tranh. Để được thấy, chứ không phải nghe nói về sức chịu đựng và những biểu tượng về tinh thần chiến đấu vô biên của tất cả những người đã giữ vững An Lộc, cho dù thành phố này không còn là một thành phố nữa. Ngày 13/6/72, toán phóng viên lại lên đường. Ngoài tôi còn có Đại úy Ngguyễn Văn Quí, sĩ quan báo chí sư đoàn 5. Dương Phục, Đài tiếng nói Quân đội, Anh Thuần của báo Tiền Tuyến, Tam Phong Slao Quắn của sư đoàn 5 và Hebert thuộc hệ thống truyền thanh truyền hình của Canada. Người phóng viên quốc tế này đã bị tử thương ngày 23/7/72 lúc theo dõi chiến trận Quảng Trị sau khi An Lộc được giải tỏa. Tất cả chúng tôi được ngồi chung trên một trực thăng UH trong đợt đổ quân của tiểu đoàn 2/31 củ sư đoàn 21 BB tăng viện cho mặt trận An Lộc.

Vào khoảng thời gian này, phòng không địch không còn mạnh mẽ như những chuyến đi trước của chúng tôi vào 2 tháng 4 và 5. Các phi công ghi nhận là quân CSBV chỉ còn một ổ đại bác 57 ở phía Bắc Tân Khai và một số ít đại liên dọc theo các rừng cao su mà thôi. Đoàn trực thăng 5 chiếc "lao" xuống Xa Cam lúc 11 giờ sáng và ngay khi chân vừa chạm đất chúng tôi bắt đầu nghe những tiếng xé gió và những tiếng nổ chát chúa, địch bắt đầu pháo kích theo như thói quen thường lệ, mỗi khi nghe tiếng động cơ trực thăng vọng về. Đã có nhiều kinh nghiệm tại mặt trận này, tất cả chúng tôi, không ai bảo ai chạy túa vào 2 bên rừng cao su và lao mình xuống những hố đạn cũ gần nhất. Địch ngưng pháo sau chừng 15 trái đạn, đây là các ụ súng của ta bị địch chiếm ở phía Đồi Gió, trong những ngày đầu chiến trận. Dứt tiếng pháo, chúng tôi chạy theo 2 ven rừng cao su; phía trước là các toán quân vừa được trực thăng vận tới, họ di hành theo đội hình hàng dọc, nhiệm vụ của họ là tới An Lộc và từ đó tăng cường các cánh quân tảo thanh địch quân ở vòng đai tỉnh lỵ. Được chừng hơn 100 m, Đại úy Quí bắt đầu kiểm điểm "quân số" trong toán chúng tôi, thiếu mất ông phó nháy Slao Quắn và phóng viên Tiếng nói Quân đội Dương Phục. Chúng tôi quyết định tìm chỗ núp để chờ. Có lẽ Slao Quắn và Dương Phục chạy qua phía rừng bên kia khi Cộng quân pháo kích bãi đáp. Một lát sau họ bắt kịp chúng tôi tại tấm bảng xi măng "Plantation de Xacam." Dương Phục thở hổn hển, đất đỏ Bình Long nhuộm mồ hôi tạo cho gương mặt hắn một màu kỳ dị. Hắn cho biết trong lúc chạy pháo kích, cái túi đeo của hắn văng mất và sức ép của tiếng nổ lẫn cánh quạt trực thăng đã làm những đồ vật trong túi bay như bươm bướm. Dương Phục mất hết các vật dụng riêng của hắn ngoại trừ tìm lại được xác cái máy cassette đã trở thành vô dụng. Đoạn đường từ Xa Cam vào An Lộc chỉ hơn cây số nhưng tôi đã có cảm tưởng là đã vượt đoạn đường di hành dài mấy chục cây số.

Có lúc tôi định quẳng cái ba lô cho nhẹ và cũng để nhảy xuống hố tránh pháo dễ dàng. Tuy nhiên khi nghĩ tới mấy vật dụng cần thiết và mấy túi lương khô, tôi đã cố gắng đeo cái túi càng ngày càng nặng chĩu này để đi "bắt tay" Tướng Hưng. An Lộc đã vào trong tầm mắt thì vừa lúc chúng tôi nhận ra một thương binh mặc quần áo rằn ri, đang rên rỉ bên cạnh xác chiếc T54 cháy nám đã bắt đầu rỉ sét. Máu nhuộm đỏ thân mình, người thương binh dơ cánh tay yếu ớt về phía chúng tôi rồi chỉ vào miệng anh, có lẽ anh đang trải qua cơn khát cháy cổ của những người bị thương mất máu. Cùng lúc này địch lại pháo mấy trái đạn, tiếng rít gió nghe lạnh mình, những tiếng nổ chát chúa, tiếng cành cao su gẫy rào rào, trái đạn đã vào trong bờ rừng. Có tiếng ai gọi lớn :"Chạy mau đi, thoát khỏi chỗ này", tất cả chúng tôi cắm đầu chạy như bay về phía trước, nhiều xác T54 rải rác, một chiếc xe be vàng chói đầy vết đạn pháo kích nằm vắt ngang con dốc. Đại úy Quí quay lại nói: "Toàn vết pháo mới, chạy mau đi". Người ta gọi con dốc có chiếc xe be là khúc quanh tử thần, vì chỉ riêng tại nơi này hơn 200 thương binh và những người được phép di tản đã chết vì đạn pháo kích trên đường đón trực thăng ở bãi đáp. Hình ảnh người thương binh vẫy tay xin nước ám ảnh tôi suốt hành trình vào An Lộc và có lẽ cả quãng đời còn lại sau này. Toán quân đi trước và cả toán chúng tôi đã không giúp gì được cho anh ta, dù muốn dù không đó cũng là điều "không nên, không phải". Leo hết con dốc tử thần là bắt đầu vào An Lộc, một tấm bảng xanh lỗ chỗ vết đạn với hàng chữ "Chiều bắt buộc cho xe dân sự vào châu thành", đầu đường là một bót gác vách đá lố nhố thương binh. Họ đang chờ giờ ra bãi đáp trực thăng, quần áo mọi người nhuộm một màu nâu đỏ đặc biệt, đó là màu đất Bình Long.


Xe tăng T-54 bị Biệt Kích Dù bắn hạ


Đồng hồ chỉ 11 giờ 20, thế là chúng tôi chạy trong 20 phút từ bãi đáp Xa Cam vào An Lộc. Càng vào sâu, cảnh điêu tàn càng hiện rõ, trên con đường chúng tôi đi không một thước vuông đất nào không ghi lại những vết tích của chiến tranh. Từ xa hướng về, không một ngôi nhà nào nguyên vẹn, những mái nhà sụp đổ, thân tường nghiêng ngả lỗ chỗ vết miểng, những cột đèn siêu vẹo, dây điện đứt tứ tung và điểm thể hiện duy nhất cho sự kiện An Lộc chiến đấu cô đơn chính là những cánh dù tiếp tế phủ đầy mặt lộ. Sừng sững giữa khung cảnh hoang tàn, một bức tượng chiến sĩ tiến lên đập ngay vào tầm mắt những ai tiến vào An Lộc. Thật là kỳ lạ, bức tượng này đã đứng vững trong hơn 2 tháng trời An Lộc bị pháo kích tổng cộng gần 200,000 trái đạn. Tiểu khu ở phía tay mặt con đường, Đại úy Quí đã từng vào An Lộc trong những ngày chiến trận thảm khốc hồi tháng 5. Ông nói :"Các anh cứ đi theo tôi coi chừng lạc". Đi chừng hơn 100 m, chúng tôi trông thấy một dinh thự 2 tầng đã sụp đổ phần trên, đó là Tòa hành chánh Bình Long, những hàng chữ bảng xi măng đúc không còn nguyên vẹn. Mùi xú uế nồng nặc đến lợm giọng. Một thứ mùi đặc biệt của thịt người và thú vật đã sình thối. Bộ Chỉ huy của Tướng Hưng nằm phía sau Tòa Hành chánh. Những dãy nhà mất mái, đổ tường, hầm của của Tướng Hưng ở phía dưới một trong những căn nhà này. Chúng tôi bước vào một lối đi nhỏ hẹp, đó là đường dẫn xuống trung tâm hành quân của Tướng tử thủ Lê Văn Hưng, Tư lịnh mặt trận Bình Long. Căn hầm tù mù, một ngọn đèn duy nhất chừng 45 nên chỉ mang lại một chút ánh sáng vàng vọt, không đọc nổi một bức thư.

Sau này, chúng tôi được biết Tướng Hưng chuẩn bị cho những ngày phong tỏa kéo dài, ông có 3 máy điện riêng nhưng nhất quyết chỉ xử dụng một máy, công suất của máy chỉ đủ dùng cho hệ thống siêu tần số và các máy liên lạc, còn thừa lại là ánh đèn khô héo trong hầm chỉ huy. Tướng Hưng tự hạn chế mọi tiện nghi riêng để dành cho sự sống còn của Bình Long. Nếu không còn mạch điện cung cấp cho hệ thống liên lạc thì An Lộc sẽ thất thủ tức khắc. Ngoài căn hầm nhỏ dành riêng cho ông và nơi này chỉ được thắp sáng khi cần, bằng pin Magnesium với bóng đèn xe đạp. Tướng Hưng chỉ xử dụng một máy phát điện, 2 máy còn lại phải phòng hờ trường hợp đạn pháo kích làm hư hại. Hơn nữa, mức dự trữ nhiên liệu luôn luôn chỉ đủ cho thời gian một tuần lễ. Theo lời yêu cầu của Tướng Hưng, quân đoàn có cho thả dù các phuy xăng nhưng trong 10 thùng khi chạm đất đã phát nổ đến 9. Có những ngày Tướng Hưng phải ra lịnh đi mót xăng từ các xác xe cộ năm rải rác trong thành phố. Nhiều người đã chết trong công tác bề ngoài rất tầm thường này, nhưng thực ra chính là sự hy sinh đầy ý nghĩa cho sự đứng vững của An Lộc trong hơn 2 tháng trời khói lửa.
Trong "TOC" (Trung tâm hành quân) tù mù, Đại úy Quí trình diện "xếp" và giới thiệu từng người trong bọn tôi. Tướng Hưng mặc áo thun xanh và có nụ cười hiền từ, ông bắt tay mọi người và khất đến sau phiên họp hành quân sẽ để chúng tôi phỏng vấn. Căn hầm của Tướng Hưng rất hẹp so với số người chen chúc làm việc trong đó, kích thước chỉ chừng 4x10 m, tất cả bộ tham mưu của ông làm việc dưới này và không một ai có quân phục đàng hoàng, không áo thun thì cũng mình trần.
Vào buổi chiều Tướng Hưng ra khỏi hầm để anh em chúng tôi thực hiện một "show" dã chiến. Chúng tôi nhận rõ khuôn mặt gầy gò rất có nét của ông. Điểm đặc biệt là làn da ông trắng xanh sau hơn 2 tháng làm việc dưới hầm, tránh các trận địa pháo kinh hoàng của Cộng quân mà có lúc đã lên tới khoảng 7,500 trái trong một ngày. Trong cuộc phỏng vấn, Tướng Hưng thay vì nói về mình đã chỉ đặc biệt đề cao tinh thần chiến đấu của tất cả các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng đã giữ vững An Lộc và tình cảnh bi đát của cả chục ngàn đồng bào kẹt giữa vùng lửa đạn Bình Long. Tướng Hưng ca ngợi tất cả các lực lượng chiến đấu không riêng gì sư đoàn 5, lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân dưới sự điều khiển của Đại tá Nhật, tiểu khu trưởng Bình Long, anh em lữ đoàn I Nhảy Dù dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng, các chiến hữu liên đoàn 81 Biệt Cách Dù thuộc quyền Trung tá Huấn (sau này là Đại tá), anh em Biệt Động Quân và một số lực lượng tăng phái thuộc các sư đoàn 21, 9 và 18.



Những trận đánh Lữ Đoàn I Dù tại An Lộc


Sau cuộc phỏng vấn, Đại úy Quí đi lãnh mấy chục túi gạo sấy và thịt "menu à la carte" của An Lộc. Cùng lúc này chúng tôi gặp lại tất cả các anh em phóng viên chiến trường đi lẻ tẻ vào An Lộc. Nhóm này gồm có Cầu, Mỹ Voi, Hoàng và Lộc thuộc điện ảnh truyền hình quân đội. Hoàng bị thương "sứt mũi" nên ngày chiều 13/6/72 đã theo một trực thăng tản thương về Lai Khê. Đỗ Văn Mỹ tục danh Mỹ Voi vì anh to và khoẻ như voi. Mỹ Voi được tất cả anh em quí mến vì hắn luôn luôn coi trọng bạn bè hơn bản thân. Hắn thường xuyên lo lắn cho anh em từ chiếc chiếu ngủ đến cả bữa cơm gạo sấy thịt hộp . Trong chuyến "phiêu lưu" vào An Lộc, Mỹ Voi gặp nhiều may mắn đã tìm được thi hài đồng nghiệp Nguyễn Ngọc Bình, tự tay hốt cốt bạn gởi về Saigon. Điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình bị nổ phi cơ hôm 1/5/72 trên đường vào An Lộc; 11 người trên chiếc trực thăng này đều thiệt mạng.
Ngày 11/6/72, Mỹ Voi theo chân trung đoàn 15 hành quân trực thăng vận vùng Tân Khai và từ đó anh đã đi bộ 15 km đường rừng để vào An Lộc. Trên đường hành quân, Mỹ Voi bắt gặp xác chiếc trực thăng bị bắn hạ và di thể 11 người trên phi cơ, hắn nhìn được xác Nguyễn Ngọc Bình đã rữa nát nhờ chiếc máy quay phim và các "reel" phim trên ngực. Tất cả 11 di thể những người chết không một ai còn thẻ bài và Mỹ Voi tin chắc là đã tìm được xác Bình nhờ một mớ tóc bạc trên xương sọ. Mỹ Voi đã xin 2 thùng đạn "moọc chê" để hốt cốt Bình và năn nỉ Trung tá Trung đoàn trưởng 15 giúp gởi trực thăng tản thương về Saigon. Sau này khi nhận cốt chồng, quả phụ Nguyễn Ngọc Bình xác nhận đó là những phần còn lại của Bình nhờ một vết riêng ở răng của anh.

Nếp Sống Tử Thủ Kéo dài với những tháng ngày phong tỏa, chiến binh tử thủ An Lộc và số đồng bào còn kẹt trong vùng lửa đạn nhiều khi đã chia xẻ với nhau tất cả những thứ gì có thể ăn, để mà tiếp tục sống. Một túi cơm sấy cũng phải chia làm nhiều phần để cùng nhau tiếp tục...chờ pháo kích và chiến đấu. Có những khoảng thời gian người "tử thủ" trông mong những cánh dù tiếp tế như những chứng tích duy nhất cho sự liên lạc giữa hậu phương và mặt trận. "Hàng" đến, có khi là 1 bao gạo, 1 con heo quay, 1 thùng thuốc lá, mấy chục ký bánh mì hay có khi là những thùng đạn khẩn thiết cho sự đứng vững của thị trấn này. Thực phẩm tươi và rau cỏ hầu như không được tìm thấy tại An Lộc trong suốt 2 tháng trời tử thủ ban đầu. Lúc đầu người ta còn chia xẻ với nhau một số thịt tươi của một vài trại gà, mấy con bò bị đạn pháo kích chết. Nhưng tất cả nguồn cung cấp này chỉ có thể kéo dài trong 2 tuần lễ là nhiều. Những ruộng rau muống ở một vài khu vực trong thành phố khô cằn vì các cơn nắng cháy Bình Long, mùa mưa khởi sự vào đầu tháng 5 đem đến một chút sinh khí cho thành phố này trong những ngày tử thủ thứ 40 trở đi. Nước mưa làm rau muống đâm chồi trên các vũng lầy ở quanh thành phố. Nhưng rau muống cũng là một trong các đầu mối bắt nguồn cho sự bi thảm.


Những trận đánh Lữ Đoàn I Dù tại An Lộc

Ở An Lộc chết có đủ kiểu, đủ cách và tử thần rình rập ở mọi khoảng không gian lẫn thời gian. Có những người đã chết khi đi hái rau, người ta đã hái rau từ những ao đầy xác người chết vì chiến trận. Xác quân CSBV tùng thiết (bộ binh theo bảo vệ chiến xa), xác thường dân chết vì pháo kích và xác chiến binh VNCH tử thủ đã ngã gục cho sự đứng vững của An Lộc. Ao rau muốn Ấp Thánh Mẫu là một điển hình; rau mọc kín tới bờ ao, lẫn lộn với xác người đã sình thối, cũng chỉ đủ cung cấp cho binh sĩ trong vài ngày là đã cạn nguồn.
Đêm 13/6/72, chúng tôi ngủ nhờ hầm Tướng Hưng. Đây là một căn hầm khác có lối đi thông qua hầm trung tâm hành quân. Tướng Hưng ít khi nào ngủ tại hầm riêng; ông hầu như làm việc 20 giờ một ngày với các bản đồ hành quân và một dọc máy truyền tin chằng chịt. Ông "lên máy" hầu như vào mọi lúc. Ông liên lạc với từ cấp trung đội trưởng trở lên để biết rõ tình hình và từng vị trí một, nhất là những khi có chiến xa CSBV xuất hiện trong thành phố. Đôi lúc ông tướng này thiếp đi ngay trên bàn làm việc, nếu không, ghế bố tại TOC sẽ là nơi ông chợp mắt trong khoảng vài tiếng đồng hồ một ngày. Cả một ngày mệt mỏi với những giây phút căng thẳng chạy đua với thần chết, đêm xuống tất cả chúng tôi ngủ mê man bỏ quên mọi chuyện, quên những tiếng đạn nổ từng chập và đàn muỗi đói vo ve như sáo thổi dưới căn hầm hỏa lò.

Đã từng được nghe nói trước khi vào An Lộc, thức giấc lúc 7 giờ sáng, chúng tôi hỏi Đại úy Quí, "Ở đây không có đánh răng rửa mặt gì hết, phải không?. " Ông trả lời một cách ỡm ờ: "Chắc vậy." Ấy thế mà 2 ông Dương Phục, Anh Thuần vẫn xin đâu được một ca nước nhỏ thường thì chưa đủ cho một người súc miệng, 3 chúng tôi rửa mặt chung bằng số lượng nước quí giá này.
Mấy người lính tử thủ nói với chúng tôi: "Bây giờ là thần tiên rồi. Hồi tháng 4, tháng 5 nước uống khiếm không ra, nói chi cái công tác vệ sinh cá nhân xa xỉ." Nguồn cung cấp nước ở An Lộc là mấy cái giếng ở khu phố chợ và con suối ở ngoại ô thành phố. Lính tử thủ hàng ngày xách các can xăng đi tìm nước cho mình và cho đồng đội. Có lần một sĩ quan tham mưu của Tướng Hưng chết trong khi đi tìm đường suối tắm, Tướng Hưng đã "cạo" mấy ông sĩ quan thuộc Bộ Tư lịnh suốt ngày :"Ai cho mấy ông di tắm, không tắm đâu có chết, mấy chục ngày rồi tôi có tắm lần nào đâu, đâu có sao". 14/6/72, một ngày tử thủ mới lại bắt đầu. Sự yên lặng kỳ lạ của một thành phố chết vây kín khoảng không gian nhỏ bé đã khiến cả vạn con người uổng tử. Sự yên tĩnh thê lương không kéo dài lâu, chúng tôi đang đứng ở phòng khách trống mái của Tướng Hưng, mấy người lính đang "chế" cơm chiên Dương Châu bằng gạo sấy và thịt hộp. Những tiếng xé gió vụt ngang và những tiếng nổ ầm ầm liên tiếp. Không còn ai ở ngoài, trong khoảnh khắc mọi người biến hết vào trong các hầm chìm hầm nổi. Dứt một loạt tiếng nổ, chúng tôi theo chân mấy anh em sư đoàn 5 ra khỏi hầm; họ cười nói huyên thuyên chẳng màng gì tới đợt pháo vừa nổ, có lẽ sự chịu đựng lâu ngày tạo cho họ thêm nhiều thói quen mới. Tôi hỏi người lính đang luôn tay đảo cơm trong cái chảo gang : - 82 hay 107? - Hoả tiển đấy. Trúng hầm thì cũng tiêu luôn. Tụi nó có thứ đầu đạn xuyên hầm nổ chậm, ngoài sân nhiều lỗ lắm, lúc nào ra coi. Người lính trả lời nhưng mắt vẫn không rời chảo cơm thơm phức.



Câu chuyện chưa dứt, Đại úy Quí xuất hiện với nón sắt áo giáo nhưng cởi trần, 2 tay ông truyền nhau một vật gì trông không rõ. Ông nói: "Miểng văng tới tận đây còn nóng hổi, các anh coi". Sau đợt pháo chào buổi sáng của quân CSBV, chúng tôi sửa soạn xuống phố chợ để thăm 2 đơn vị anh hùng trung đoàn 8 BB và liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Quí dặn dò: "Áo giáp nón sắt, ba lô để lại để chạy pháo cho lẹ." Anh em chúng tôi băng qua mấy dãy nhà đổ nát, bắt đầu vào con đường đất đỏ Hàm Nghi, đã trông thấy khu phố chợ, cũng vẫn là một cảnh hoang tàn đổ nát. Y viện An Lộc đây rồi, không ai còn có thể nhận ra nơi đây đã từng là một bệnh viện nếu không có tấm bảng lỗ chỗ vết đạn treo lủng lẳng từ trên một đầu trụ xi măng có hàng chữ "Phòng nhận bệnh.."

Anh em tử thủ kể lại cho chúng tôi rằng trong những ngày máu lửa của Bình Long có đến 600 người đã chết tại bệnh viện này, kể cả thương binh, đồng bào bị thương đang được chữa trị cũng như những người lánh nạn tìm sự an toàn ở dấu hiệu quốc tế hồng thập tự. Cộng quân pháo kich dã man vào khu nhà thờ và nhà thương với mục đích rõ rệt, giết hại thật nhiều người để An Lộc hỗn loạn, binh sĩ mất tinh thần hầu chúng có thể dứt điểm An Lộc một cách mau chóng. Bộ chỉ huy trung doàn 8 BB đặt tại một trong các cao ốc đang xây dở trên đại lộ Hoàng Hôn hay đường Trần Hưng Đạo cũng vậy, chúng tôi đến thăm nơi này giữa lúc Đại tá Mạch Văn Trường đang gắn lon Đại úy đặc cách mặt trận cho Trung úy Đào Lâm Tòng, một đại dội trưởng xuất sắc của tiểu đoàn 3/8. Trung úy Tòng sáng 14/6/72 đã giải tỏa đồi 100 phía Đông Bắc An Lộc và cắm hiệy kỳ tiểu đoàn 3/8 trên đồi này. Ngày 13/6, Biệt Cách Dù giải tỏa đồi Đồng Long ở vòng đai Bắc An Lộc và lá quốc kỳ VNCH phất phới tung bay trong nắng sớm sau 68 ngày Cộng quân chiếm cứ cao điểm 148 m này. Cũng vào ngày 13/6 các chiến sĩ Biệt Động Quân gan dạ đã giải tỏa sân bay L.19 ở Tây Bắc An Lộc. Những chiến tích này khiến cho tất cả địch quân bị đẩy lui ra xa thành phố An Lộc và là một khởi điểm vàng son cho sự đứng vững của thành phố này.

Đại tá Mạch Văn Trường, Trung đoàn trưởng trung đoàn 8 (sau này là Tư lệnh phó sư đoàn 5 BB) và Thiếu tá Hoàng Trung Liêm, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 52 pháo binh đã tiếp đón chúng tôi thật ân cần; họ xúc động vì sự có mặt của chúng tôi tại An Lộc. Đại tá Trường và Thiếu tá Liêm hướng dẫn chúng tôi đi quanh khu vực Bộ chỉ huy trung đoàn, từ 4 con đường xung quanh rải rác 15 chiếc T54 và PT76, cái thì đứt xích, lật nghiêng, cái thì văng cả pháo tháp nằm ngang ngửa trên mặt lộ. Duy có một điểm giống nhau, tất cả cùng nám đen và bắt đầu hoen rỉ. Lâu ngày chưa có ai để tâm sự, Đại tá Trường miên man kể chuyện chiến trận cam go từ khi trung đoàn được trực thăng vận vào An Lộc ngày 11/4/72 và chịu đựng 4 trận tấn công biển người với chiến xa yểm trợ. Đại tá Trường "thú thật" cả đời đánh giặc chưa khi nào dự trận nào khủng khiếp như trận này và đây cũng là lần đầu tiên phải đương đầu với chiến xa địch.


Lữ Đoàn I Dù chuyẻn quân tại Chơn Thành


Trung đoàn từ Tri Tâm lên An Lộc ngày 1/4/72 nhận chuyên trách nhiệm phía Bắc An Lộc, lo luôn "tổng tiền đồn" cho sư đoàn 5. Không đầy 48 giờ sau, quân BV mở cuộc tấn công biển người đầu tiên vào An Lộc với từng đoàn chiến xa tiến nhanh như vũ bão vào thành phố. Trước cuộc tấn công đầu, địch bắt đầu "pháo tập" (trận địa pháo) vào thành phố từ 7/4 và kéo dài liên miên trong những ngày sau đó. Trận đánh ngày 13/4, lần đầu tiên chạm chiến xa địch và đương đầu với quân số đông đảo của địch quân, binh sĩ mất tinh thần thấy rõ. 20 phút sau đứt liên lạc với bộ chỉ huy là xe tăng BV xuất hiện. Biệt Động Quân và Địa Phương Quân chịu không nổi cũng rút luôn vào thành phố. Tất cả mọi người chiến đấu được đều ra tuyến, M72 được xử dụng tối đa, cối 81 chần từng thước vuông một trên đường tiến quân địch, tùng thiết địch bỏ chạy, bộ binh BV phía sau không tiến lên được, xe tăng BV chỉ còn cách đậy nắp tiến một mình và làm bia nhắm cho M72 hủy diệt. Trận tấn công đầu thất bại, địch lui binh và tiếp tục trận địa pháo vào thành phố. Đại tá Trường, xuất thân khóa 12 Võ bị Đà Lạt, tốt nghiệp tham mưu cao cấp, bởi vậy ông rất tôn trọng nguyên tắc chỉ huy tham mưu khi cầm quân. Sau trận đánh 13/4, lính chết và bị thương được đưa lui về phía sau để đại đội 52 quân y đảm trách và khỏi làm xuống tinh thần binh sĩ. Tuy vậy, ông cho biết là sau trận tấn công thứ hai ngày 15/4 ông không còn áp dụng "cẩm nang" này nữa, An Lộc chỗ nào cũng bị pháo, người đưa về quân y cũng không săn sóc được có khi lại gia tăng tổn thất khi di chuyển. Bởi vậy ông ra lịnh đơn vị nào lo cho đơn vị ấy băng bó lấy và chôn cất tại chỗ. Qua trận 13/4/72, cấp chỉ huy cũng như binh lính có thêm kinh nghiệm đánh chiến xa và không còn "khớp" như trước. Đại tá Trường và các sĩ quan của ông thấy rõ là sẽ diệt hết chiến xa địch nếu phân tán được chiến xa và bộ binh địch, cứ mỗi đại đội bộ binh thì có 4 chiến xa địch đi kèm. Làm tan rã bộ binh, xe tăng địch sẽ dễ dàng bị hủy diệt. Bởi thế ông pháo binh "nhà nghề" Hoàng Trung Liêm được giao phó dọn một bãi pháo binh trên con đường địch sẽ đi qua để vào tuyến trung đoàn 8. Sau nhiều giờ nghiên cứu, Thiếu tá Liêm chọn chỗ, tập trung hỏa lực súng cối và chờ đợi. Ngày 15/4/72, CSBV lại tiến vào An Lộc như lần trước với bộ binh và chiến xa, không may mắn cho họ là đã đi vào đúng "bãi pháo", bộ binh địch chạy tán loạn và chiến xa không còn ai "tùng thiết."



Xe tăng địch lại làm nước liều đậy nắp tiến lừng lững vào trung tâm thành phố, binh sĩ VNCH từ dưới hố nhảy lên phóng M72 từ sau đích xe tăng và biến cả khối thép khổng lồ thành những con "cua rang muối." Cũng từ trận này, một số binh sĩ được Đại tá Trường cho xử dụng súng chống chiến xa B40, B41 tịch thu được của quân BV, chỉ cần một phát là chiến xa địch cháy phừng phừng, lính CSBV nhảy từ trong xe ra, da thịt cháy vàng như bị thuị Đại tá Trường nói tiếp: "Nếu bộ binh và chiến xa của tụi nó phối hợp được với nhau, An Lộc này chắc chắn đã thất thủ. Tại mặt trận này chúng tôi không có một xe tăng nào cả, chỉ có lèo tèo vài chiếc commando-car V100, nội pháo kích không cũng bị hư hại". Đại tá Trường cũng ca ngợi lữ đoàn I Nhảy Dù, cánh quân trấn giữ mặt Nam An Lộc, nhất là cú "bắt tay" thần sầu của tiểu đoàn 6 và 8 Dù ngày 8/6. Đại tá Trường tâm sự: "Đại tá Lưỡng, Lữ đoàn trưởng lữ đoàn I Nhảy Dù tấn mặt Nam, tôi mặt Bắc, môi hở thì răng lạnh, hôm tôi bị thương ông Lưỡng tới thăm và nói lúc này mà bị thương thì chết rồi. Tôi kể chuyện bị địch đánh rát quá, ông Lưỡng khuyên nên biến chế mìn để chặn đường chiến xa địch. Nghe lời ông Lưỡng tôi cho chế cứ 2 đầu đạn 155 ly với ngòi nổ thành một quả mìn, mấy đợt tấn công sau này xe tăng CSBV bị lủng lườn hết vì mìn biến chế này".


Thiên thần Mũ Đỏ


Rời trung đoàn 8 BB, chúng tôi xuống một con dốc, chợ An Lộc ở dưới kia, đạn pháo kích đã làm nhà lồng chợ trơ trọi những khuôn sắt cháy nám, cả một vùng chung quanh chợ chỉ còn những đống gạch đổ nát. Trung đoàn 8 và liên đoàn 81 Biệt Cách Dù đóng cách nhau có một con đường nhỏ. Từ trên một vọng gác của trung đoàn 8, chúng tôi trông thấy những ngôi mộ mới được sắp xếp có hàng lối ở bên cạnh ngôi chợ hiu quanh và tan tành của An Lộc, đó là nghĩa trang Biệt Cách. Địch vẫn chưa ngưng tiếng pháo, tuy vậy mấy người lính mũ xanh vẫn tiếp tục đi lượm gạch và xây vòng rào chung quanh nghĩa trang dành riêng cho anh em họ. Những người khác lúi húi dựng một đài kỷ niệm trước lối vào nghĩa trang. Giữa không khí kỳ quặc của thành phố chết, giữa những tiếng pháo nổ chát chúa, những hình ảnh chan chưá tình người này làm chúng tôi xúc động, và chúng tôi đã có mặt ở nghĩa trang Biệt Cách. Đài kỷ niệm cao hơn đầu người và có khắc 2 câu thơ mà sau này chúng tôi được biết là của một người con gái Bình Long đặt ra đề tặng các anh hùng Biệt Cách : An Lộc địa, sử ghi chiến tích Biệt Cahc Dù vị Quốcc vong thân". Người thiếu nữ đó là Phạ Cô chẳng còn ai thân thích sau những ngày máu lửa ở An Lộc. Chính Pha cũng bị miểng đạn đại bác ghim vào chân. Các chiến sĩ Biệt Cách Dù đã tìm thấy cô và đưa về cho bác sĩ chữa trị ở khu phố chợ. Những buổi chiều im tiếng pháo, Pha đòi các anh em Biệt Cách Dù khiêng ra ngoài hè để nhìn cảnh Bình Long đổ nát. Những buổi chiều tiếp nối...đến một hôm Pha bật khóc khi nghe mấy người lính mũ xanh kẻ tên các chiến hữu trên mộ bia ở nghĩa trang Biệt Cách. Tưởng rằng các dòng nước mắt đã khô cạn sau những ngày ròng rã bị "pháo tập" của CSBV, nhưng chính chiều hôm đó cô đã bật khóc và cảm đề 2 câu thơ trên chứa đựng biết bao đau thương tại An Lộc.



Trong trận chiến tháng 4/72, sự thất bại về quân sự của CSBV chắc hẳn không làm Hà Nội điên đầu cho bằng sự kiện quân "giải phóng" đi tới đâu là đồng bào ùn ùn bỏ chạy tới đó. Ghê tởm bằng kinh nghiệm của Tết Mậu Thân năm 1968 với cả ngàn thường dân bị chôn sống tại Huế, đồng bào Bình Long chạy tháo thân từ Lộc Ninh về An Lộc. Mọi người vượt lửa đạn bỏ hết tài sản, của cải tiến vào trong cõi chết để tìm sự sống, tình quân dân thắm thiết được tìm thấy ở An Lộc, không phải chỉ là sáo ngữ nhưng là sự thật. Đồng bào nuôi chiến sĩ, chến sĩ nuôi đồng bào. Tướng Hưng thì diễn tả rõ hơn : "Lúc thì chiến sĩ đi chôn đồng bào, lúc thì đồng bào đi chôn chiến sĩ". Có một số người lưu lại An Lộc cho đến những giai đoạn sau cùng của cuộc chiến, có những người không chịu nổi những trận "pháo tập" kinh hoàng đã bồng bế dắt díu nhau hướng về phương Nam, vô số người bỏ mạng dọc hành lang máu từ An Lộc về Tân Khai qua Suối Tàu Ô tới Chơn Thành. CSBV cố công ngăn chặn đám dân chạy loạn này hầu bắt lính bổ sung các đơn vị kiệt quệ của chúng và đồng thời lưu giữ đàn bà trẻ em vì chúng biết chắc chiến sĩ VNCH không khi nào dám xả súng bắn vào đám thường dân ruột thịt dù trong đó lẫn lộn các đơn vị chính qui CSBV. Có những ngày khoảng 3000 người chạy qua Tàu Ô về tới Chơn Thành chỉ còn lại 500. Thảm kịch không ngôn ngữ nào diễn tả được, không gia đình nào toàn vẹn khi vượt qua lưới đạn ác nghiệt của CSBV để về vùng quốc giạ Chuyến đi vĩ đại nhất diễn ra vào ngày 12/6/72. Khoảng 12000 đồng bào từ An Lộc tiến về hướng Nam qua Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch đến Tân Khaị Cộng quân đã chận bắn xối xả vào họ và có chừng 2000 người đã bỏ mạng. Tuy vậy hàng ngàn người còn lại đã tìm thấy ánh sáng của tự do ở Chơn Thành. Trước khi đồng bào lên đường lúc hừng đông ở An Lộc, Đại tá Nhật,Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long đã rưng rưng nước mắt tặng mỗi người một túi cơm sấy đủ ăn một ngày. Chính quyền địa phương cũng như đồng bào đều hiểu rõ những nguy hiểm chờ sẵn trên "hành lang máu" đó, nhưng biết làm cách nào khác. Khi An Lộc không còn đủ thuốc men, lương thực, và quân CSBV vẫn có thể mở các trận đánh mới gây tổn thất thảm khốc cho số thường dân đông đảo này. Trong số hơn trăm đồng bào lưu lại An Lộc cho đến hoàng hôn của cuộc chiến, bà Ngô Văn Xuyến, nhủ danh Văn Thị Ngôn, đã trở thành người nổi tiếng khi những cảm xúc chân thành của bà được phát thanh trên hệ thống truyền thanh quốc gia ngày trong những ngay trong những ngày An Lộc còn bị phong tỏa. TT Thiệu, trong chuyến viếng thăm An Lộc ngày 7/7/72 cũng đã tìm gặp bà để bày tỏ sự cảm phục của ông. Bà Ngôn đã diễn tả sự đùm bọc giữa lính và dân một cách mộc mạc, nhưng lại làm se sắt lòng người hơn bất cứ một bài văn nào diễn tả những tình cảnh ở An Lộc. Ở An Lộc chắc hẳn có đến muôn ngàn câu chuyện bi thương, nhưng gương chiến đấu bền bĩ, sự chịu đựng đến tận cùng sức chịu đựng của con người. Người viết dù đã thực hiện được mộng ước lớn nhất trong đời phóng viên chiến trường là vào An Lộc để tỏ sự kính phục với tất cả những người đã giữ vững thành phố này, nhưng có lẽ đã chỉ được nhìn An Lộc dưới một góc cạnh đầy khiếm khuyết. Tuy vậy, điều chắc chắn và rõ ràng vẫn là An Lộc anh hùng - Bình Long anh dũng.

1 comment:

  1. Trận chiến An Lộc là một chiến trường có thật như trong bài viết nầy. Từ nhà cửa,cũng như các vật thể v.v & v.v không có 1 cái gì gọi là nguyên vẹn cả!.
    Cao Vững ĐĐ2/TĐ35 BĐQ KBC4400

    ReplyDelete